Trang chủ

Đồng cảm, thấu cảm, lòng trắc ẩn

Đồng cảm, thấu cảm, lòng trắc ẩn

Thấu cảm không phải là trạng thái khi trưởng thành chúng ta mới có được chỉ vì lý do cảm xúc của người trưởng thành được điều tiết tốt hơn. Đó là cách tiếp cận sai khi giải thích, từ khi còn là trẻ sơ sinh ta đã có trạng thái đó và sâu sắc hơn bất kỳ người trưởng thành nào do không có thuyết vị lợi, thuyết đạo đức nào dán nhãn được, nhưng được dùng ở ngữ nghĩa khác “tính bắt chước và sự lây lan cảm xúc”

  • Trạng thái đồng cảm hiện hữu dễ nhất khi bạn thấy ai đó bị thương thể chất bạn cảm nhận vị trí bị thương trên mình nhanh chóng khi nhìn thấy điều đó trên họ, xem một bộ phim ngôn tình lâm li bi đát khóc sưng cả mắt như thể bạn là nhân vật bi kịch trong phim mặc dù bạn sẽ quên đi ngay sau vài tiếng tại sao phải khóc sưng mắt vì những phân đoạn đó chứ không phải cả cuộc đời người viết kịch bản. Nhưng mặt tối của nó đó là lòng thương hại hình thành, khi một người nhạy cảm hơn họ xem hành vi đó là điều làm họ xấu hổ.

  • Trạng thái thấu cảm lại có yếu tố nhận thức song hành cùng cảm xúc để giúp hiểu được toàn bộ quá trình nỗi đau khổ của ai đó, góc nhìn của họ trên nỗi đau đó, và đưa bản thân ngồi vào đúng vị trí nỗi đau đó, không dừng ở 01 điểm, 01 đích cụ thể mà là cả hành trình dài của chính người đó. Khi đó khoảng cách giữa nhận thức và cảm xúc được kéo gần nhau lại để tiến tới từ “nội tâm” thú vị tiếp theo là “lòng trắc ẩn”, đó là điểm bùng phát cho tính đồng điệu với nỗi đau khổ của người khác, chuyển hoá thánh động cơ cho bạn bắt tay vào hành trình nâng đỡ tâm hồn và thể chất cho người khác mà không bị chi phối thiệt hơn của bàn cân lượng hoá khái niệm (Tôi/Họ)

Ta không thể ép buộc ai đó phải thực sự cảm thấy thấu cảm, cũng không thể khơi gợi điều đó bằng cảm giác tội lỗi hay trách nhiệm gượng ép. Bằng những cách ấy ta chỉ có thể tạo ra những phiên bản thấu cảm giả tạo chứ không bao giờ có được thứ thật sự.

Thấu cảm cũng có thể mang lại một cảm giác hoàn tất đầy nguy hiểm, rằng một việc gì đó đã được hoàn thành chỉ vì một cảm xúc nào đó vừa được cảm nhận. Người ta rất dễ ảo tưởng rằng cảm nhận nỗi đau của người khác tự thân nó đã là một đức hạnh. Mối nguy hại của lòng thấu cảm không chỉ đơn giản là nó có thể khiến chúng ta cảm thấy tồi tệ, mà là nó có thể khiến chúng ta cảm thấy thỏa mãn, điều này đến lượt nó lại khuyến khích chúng ta xem thấu cảm như một cứu cánh tự thân thay vì là một phần của tiến trình, một chất xúc tác.

Thú vị hơn ở địa hạt xã hội với lối suy nghĩ thường thấy khi nhận định chủ quan rằng tôi là người giàu cảm xúc, việc đó cũng gần với đứng sát đường ranh của sự huyễn hoặc và tính đồng điệu. Não bộ học nhanh nhất thông cách quan sát nỗi sợ, nỗi đau của người khác để học hỏi và kích hoạt cơ chế “Chiến hay Chạy” cho các bối cảnh sau này, nhưng khi quá tải nhận thức cũng kéo theo những hệ quả các cơ chế phòng thủ bị chi phối với lớp rào chắn đó là Vỏ não vành trước (Anterior Cingulate Cortex - ACC), đây cũng là điểm có sự tham gia của Oxytocin. Khi thụ thể Oxytocin bị ức chế thì vùng ACC được nhét vào bởi một chất khác (đoán xem đó là gì)

  • Làm GIẢM các tác động tích cực: Vì oxytocin không hoạt động được, nên các hiệu ứng như sự thấu cảm, cảm giác gắn kết, thư giãn và khả năng chịu đau của bạn sẽ bị giảm mạnh hoặc biến mất.

  • Làm TĂNG các phản ứng tiêu cực: Khi cái “phanh” ức chế bị khóa lại, vùng não ACC sẽ bị quá kích thích, dẫn đến việc các cảm giác tồi tệ như cơn đau, sự lo âu, hoảng loạn lại tăng vọt lên.

Liệu một trạng thái thấu cảm có thực sự tạo ra một hành vi trắc ẩn hay không, để tránh rơi vào cái bẫy biến lòng thấu cảm thành một cứu cánh tự thân. Khoảng cách giữa trạng thái cảm xúc và hành động thực tế có thể là mênh mông, đặc biệt khi mục tiêu đặt ra là hành động đó không chỉ phải hiệu quả mà còn phải thuần khiết không tì vết về mặt động cơ.

Lòng trắc ẩn nên được dẫn dắt bởi sự thiếu thốn bức thiết nhất thay vì bởi nỗi đau dễ đồng cảm chia sẻ nhất. Chẳng có lý do gì để ta đòi hỏi bản thân phải có những trực giác đặc biệt nhạy bén khi hướng tới việc chữa lành cho một thế giới rộng lớn, đa tạp và cách biệt này. Một mức độ điểm tĩnh tách rời hợp lý lại chính là thứ tối cần thiết để thực sự bắt tay vào hành động, như vậy vẫn tốt hơn nhiều so với cảnh tim ta đập dồn dập trong sự đồng điệu đau đớn với trái tim của một người đang chịu thống khổ, nếu như sự kích hoạt tim mạch đó chỉ chực chuẩn bị cho ta bỏ chạy thục mạng khi mọi chuyện trở nên quá sức chịu đựng.

Sự tách rời điềm tĩnh mà ta nên hướng tới không đồng nghĩa với việc chọn cách tiếp cận “nhận thức” thay vì “cảm xúc” để làm việc phải làm. Sự tách rời không phải là việc ngồi đăm chiêu suy nghĩ chậm chạp, nhọc nhằn để hành động trắc ẩn như một giải pháp. Chìa khóa không nằm ở một trái tim nhân hậu (thuộc hệ viền) cũng chẳng phải một vỏ não trước trán có thể suy luận dẫn dắt bạn tới hành động.Thay vào đó là những thứ là bản năng “tốt” của ta: biết tự đi vệ sinh, biết cảm ơn, biết xin lỗi, biết giúp đỡ người khác mà tim không đập 180 nhịp/ phút.