Liệu pháp ý nghĩa - Logotherapy

Viktor .E Frankl luôn tin rằng con người được thúc đẩy bởi một thứ gọi là “khát vọng tìm ra ý nghĩa sống”. Ông cho rằng cuộc sống có thể có ý nghĩa ngay cả trong những hoàn cảnh khốn khổ nhất, và động lực sống đến từ việc khám phá ra ý nghĩa đó. Frankl viết: "Có những nguồn lực có thể tước đoạt tất cả của con người, trừ một thứ: sự tự do cuối cùng của họ – tự do lựa chọn thái độ trước bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời." Viktor .E Frankl Quan điểm này dựa trên những khổ đau mà ông từng trải qua và thái độ muốn tìm ra ý nghĩa sống trong những khổ đau ấy. Frankl tin rằng khi không còn cách nào để thay đổi hoàn cảnh, chúng ta buộc phải thay đổi chính mình. Thuật ngữ “logos” trong tiếng Hy Lạp nghĩa là “ý nghĩa”, và “liệu pháp ý nghĩa” (logotherapy) giúp bệnh nhân tìm ra ý nghĩa riêng trong cuộc sống của mình. Frankl đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về lý thuyết này trong cuốn sách “Đi tìm lẽ sống”. Frankl tin rằng học thuyết và liệu pháp của ông dựa vào ba tính chất cốt lõi: 1. Mỗi người luôn có một tâm tính lành mạnh. 2. Tập trung vào khai sáng nguồn năng lượng bên trong ở những người xung quanh và hỗ trợ họ phát huy nguồn năng lượng ấy. 3. Cuộc sống đem đến mục đích và ý nghĩa nhưng không phải lúc nào cũng tràn ngập viên mãn và hạnh phúc. Liệu pháp ý nghĩa cho rằng ý nghĩa của cuộc sống có thể được khám phá theo ba cách: 1. Bằng cách tạo ra một thứ gì hoặc làm một việc gì đó. 2. Bằng cách trải nghiệm một điều gì đó hoặc gặp gỡ một ai đó. 3. Bằng thái độ khi đối diện với những khó khăn không thể tránh khỏi. Một ví dụ điển hình là cuộc gặp mặt giữa Frankl và một bác sĩ đa khoa lớn tuổi đang phải vật lộn với trầm cảm sau sự ra đi của người vợ. Frankl giúp ông nhận ra rằng mục đích sống của ông lúc này chính là chịu những tổn thương thay vợ nếu ông là người ra đi trước. Liệu pháp ý nghĩa bao gồm sáu giả thiết cơ bản: 1. Thể xác, tâm trí và tinh thần: Con người là thực thể bao gồm thể xác (soma), tâm trí (psyche), và tinh thần (noos). Frankl chỉ ra rằng tinh thần mới thể hiện được bản chất của chúng ta, dù lý thuyết này không dựa trên tôn giáo hay thần học. 2. Cuộc sống luôn có ý nghĩa trong mọi hoàn cảnh: Frankl tin vào ý nghĩa của cuộc sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả khi khốn cùng nhất. 3. Con người có khát vọng ý nghĩa: Liệu pháp ý nghĩa chỉ ra rằng khát vọng tìm ra ý nghĩa của cuộc đời là nguồn động lực mạnh mẽ nhất. 4. Tự do trong tìm kiếm ý nghĩa: Mỗi cá nhân có quyền tự do chọn lựa cách đạt được khát vọng khám phá lẽ sống. 5. Khoảnh khắc ý nghĩa: Các quyết định trong cuộc sống phải đáp ứng các yêu cầu của đời sống theo những cách phù hợp với giá trị xã hội và lương tâm cá nhân. 6. Mỗi cá nhân là duy nhất: Mỗi cá nhân là độc nhất vô nhị và không thể thay thế. Frankl tin rằng khổ đau có thể biến thành thành tựu và cơ hội để thay đổi bản thân theo hướng tích cực hơn. Liệu pháp này giúp sử dụng hiệu quả hơn nguồn năng lượng bên trong để chống chọi với nghịch cảnh. Frankl thường giải thích các khái niệm này thông qua trải nghiệm cá nhân trong các cuốn sách của mình. Trong liệu pháp ý nghĩa, ba kỹ thuật được sử dụng: 1. Tránh phản tỉnh: Giúp một người thôi tập trung vào bản thân và hướng sự chú ý vào người khác. 2. Ý định nghịch lý: Làm cho một người mong muốn điều họ lo sợ xảy ra, giúp giảm nỗi sợ hãi. 3. Đối thoại Socrates: Dẫn dắt người bệnh tự tìm ra ý nghĩa thật sự của những gì mình nói thông qua các câu hỏi của nhà trị liệu. Frankl không tránh khỏi chỉ trích. Một số người cho rằng ông chỉ sử dụng trải nghiệm cá nhân ở trại tập trung để quảng bá liệu pháp này. Năm 1961, nhà tâm lý học Rollo May cho rằng liệu pháp ý nghĩa áp đặt các hướng giải quyết sẵn cho bệnh nhân, làm họ thụ động. Dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng vấn đề này có thể là do cách Frankl thực hiện liệu pháp hơn là bản chất của liệu pháp ý nghĩa. Hơn 1700 bài báo về liệu pháp ý nghĩa đã được xuất bản. Một đánh giá có hệ thống vào năm 2016 phát hiện ra những mối tương quan và tác động của liệu pháp ý nghĩa trong nhiều trường hợp: - Mối tương quan giữa sự tồn tại của ý nghĩa, tìm kiếm ý nghĩa, sự thỏa mãn và hạnh phúc trong cuộc sống. - Người mắc rối loạn tâm lý khó tìm thấy ý nghĩa sống hơn người bình thường. - Tìm kiếm ý nghĩa và sự tồn tại của ý nghĩa giúp tăng khả năng chống chọi. - Mối tương quan giữa ý nghĩa sống và suy nghĩ tự sát của bệnh nhân ung thư. - Hiệu quả của liệu pháp ý nghĩa trong điều trị trầm cảm ở trẻ em và hội chứng kiệt sức vì công việc. Áp dụng liệu pháp ý nghĩa vào đời sống bao gồm các cách thức sau: - Sáng tạo một thứ gì đó, như hoạt động nghệ thuật. - Phát triển các mối quan hệ. - Khám phá mục đích đằng sau những đau thương. - Hiểu rằng cuộc sống vốn dĩ không công bằng. - Tự do tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. - Hướng sự tập trung vào những người xung quanh. - Chấp nhận điều tồi tệ nhất để giảm bớt cảm giác nặng nề. Cám ơn bạn vì đã đọc đến đây. Bạn có thể mua sách "Đi tìm lẽ sống" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách. (English: Man's Search For Meaning, Viktor Emil Frankl)

  • Blog
  • Book
  • Sharing

Học tập trong mê cung của nền giáo dục

Khi bắt đầu nhìn nhận việc học tập cả đời là một con đường dài, chúng ta sẽ nhận thức rõ được những nguồn tri thức là vô tận, nhưng rõ ràng cách tiếp cận sẽ là đi vào mê cung đôi khi không có ngọn hải đăng cho chính mình. Tại sao? vì không phải khi bắt đầu một điều gì mới, học tập một thứ mới thì bộ não sẽ vận hành một cách có hệ thống, có trình tự nhịp nhàng và không có điểm thắt cổ chai. Nhìn rộng ra ngoài, những hoàn cảnh văn hóa phức tạp cũng khiến chúng ta gặp khó khăn trong việc duy trì học tập suốt đời. Chúng ta không được tiếp cận những phương tiện quan trọng giúp phát triển tâm lý. Trường học chỉ dạy những kiến thức nên tảng mà chẳng đặt sự quan tâm đến trình độ tiếp thu hay sở thích của mỗi cá nhân. Thậm chí vẫn tồn tại những nơi mà con người ta chỉ mong có đủ trường lớp cho con em mình được đi học, chứ không phải mong con em mình giỏi toàn diện! Tiền đề quan trọng nhất để học hỏi về bản chất con người cho đến nay vẫn còn rất thô sơ và chưa được đào tạo một cách có hệ thống từ những giai đoạn sơ khởi khi chúng ta bắt đầu đi trên con đường “học tập”. Nền giáo dục dậm chân có dạy chúng ta về những tiêu chuẩn đánh giá con người cũng như cách phân biệt giữa vấn đề nhị nguyên (tốt và xấu). Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa tự học được cách tự đánh giá các khái niệm cá nhân và vì thế phải sống cũng như đánh vật với những thiếu sót cho đến tận ngày hôm nay. Khi trưởng thành, chúng ta vẫn coi những thành kiến, thiên kiến và sai lầm hình thành từ thời thơ ấu, thời vị thành niên như những điều luật tự nhiên, bền vững vì được kế thừa từ các thế hệ đi trước. Chúng ta vẫn chưa nhận thức được rằng bản thân đã bị cuốn vào mớ hỗn loạn của nền văn hóa phát triển thông tin nhanh nhưng độ sâu chuyển đổi thì nông, rằng những góc nhìn phiến diện sẽ không cho phép chúng ta nhìn nhận được bản chất của vấn đề. Cuối cùng chúng ta sẽ phân tích mọi thứ từ góc độ khi lòng tự trọng bị thổi phồng cho đến khi mỗi cá nhân đều trở nên quyền lực hơn. "Làm cướp biển thì tốt hơn gia nhập Hải quân." - Steve Jobs. Câu trích dẫn trên khá tương đồng với câu chuyện “Skunk Works”. Khi bản thân hiểu rằng không có một phương pháp nào là tuyệt đối màu sắc mà phải đánh giá ở góc cạnh: Việc này có đang củng cố ý chí và động cơ (hoạt động), mục đích (hành động) giúp thực hiện việc tạo ra sản phẩm để liên kết mục tiêu lớn và giá trị mà bản thân mong muốn hay không? giúp bản thân tin vào những điều đang thực hiện hay không? Làm thế nào thể vận hành tổ chức, với đầy đủ quy tắc và quy trình (Hải quân), có thể nuôi dưỡng được sự nổi loạn sáng tạo (Cướp biển) cần thiết để tạo ra những sản phẩm mới cải tiến vượt trội. Nghe triết lý nó lạ lẫm khi tiếp cận về quản trị nhưng khi đọc rộng ra ở góc nhìn lớn hơn sẽ thấy những điểm tương đồng đến bất ngờ. Và trong câu chuyện "Skunk Works" là câu chuyện làm bản thân mở rộng hơn khi đã đọc về mô hình SECI của người Nhật tạo ra "Ba", là cách thúc đẩy sự sáng tạo và tri thức ẩn trong công việc. Đây là biệt danh của Phòng Nghiên cứu Phát triển Cao cấp (Advanced Development Programs) của tập đoàn Lockheed Martin, nổi tiếng với việc phát triển những máy bay tiên tiến, bí mật và mang tính cách mạng (như máy bay do thám U-2, SR-71 Blackbird, F-117 Nighthawk). Skunk Works trở thành hình mẫu cho việc tổ chức các nhóm R&D (Nghiên cứu & Phát triển) tách biệt, được trao quyền tự chủ cao để theo đuổi các dự án đột phá. Nhưng Nguồn gốc tên gọi đúng lại là Skonk Works trong tác phẩm Li’l Abner của tác giả AL Capp và nó có một lịch sử thú vị liên quan đến ngành công nghiệp thực tế. Và vào đầu những năm 80, Steve Jobs, nhà đồng sáng lập Apple, đã thuê một tòa nhà nằm sau nhà hàng Good Earth ở Thung lũng Silicon, tập trung 20 nhà thiết kế tài năng tại đây, và hình thành skunk works của riêng mình để tạo nên chiếc máy tính Macintosh đầu tiên. 1. Bí mật: Giống như nhà máy bí mật trong truyện tranh, Skunk Works thực tế cũng hoạt động một cách riêng biệt và bí mật trong tổ chức. 2. Sự đổi mới nhanh chóng: Nhóm được thành lập để làm việc nhanh chóng, bất chấp các quy tắc thông thường, để tạo ra các công nghệ đột phá, tương tự như cách những nhân vật trong truyện "chế tạo" mọi thứ theo cách của riêng họ. 3. Tinh thần "khác biệt": Nó thể hiện một nhóm làm những việc kỳ lạ, khác thường so với phần còn lại của công ty. Vậy có những nguyên tắc nổi bật từ những thông tin trên cho cá nhân và đội nhóm trong việc học tập? 1. Linh hoạt, tinh gọn & tự chủ. 2. Trao quyền hoàn toàn cho đội nhóm. 3. Tập trung cao độ vào mục tiêu, giảm thiểu báo cáo. 4. "Thử nghiệm nhanh, thất bại nhanh, học hỏi nhanh". 5. Nghiên cứu và tách biệt khỏi sự tác động nhạy cảm xã hội.

  • Blog
  • Book
  • Sharing

Cách con người phản ứng với căng thẳng

Năm 1959 nhà nghiên cứu Henry Murray (vốn là bác sĩ y khoa và chuyên gia hoá sinh), sau khi trở thành nhà tâm lý học xuất sắc ông đã có nghiên cứu có hệ thống về "cách con người phản ứng với căng thẳng” từ các sinh viên năm hai của đại học Harvard. - Sự căng thẳng của con người khi bị công kích. - Các sinh viên viết ra triết lý sống bao gồm giá trị cốt lõi và nguyên tắc cá nhân trong 1 tháng. - Các sinh viên được bắt cặp để chia sẻ và đọc các triết lý của nhau, cùng nhau tranh luận. - Toàn bộ quá trình tương tác & phản ứng được quay phim. - Buổi tranh luận: đối tượng tranh luận là sinh viên khác ngành (sinh viên luật) và nhiệm vụ trong 8 phút phải công kích thế giới quan của đối phương một cách quyết liệt, không khoan nhượng và gây tổn thương cao độ. - Sinh viên được xem lại phản ứng của bản thân và thảo luận về những hành vi bản thân sau vài tuần lễ. - Sau 3 tháng sinh viên cần mô tả lại cảm nhận của bản thân (cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ): có những sinh viên cảm nhận sự đau đớn, hoang mang, tức giận, tủi nhục — một số sinh viên khác lại phấn khích về trải nghiệm đó khi triết lý bản thân được đúc kết bị chất vấn thô bạo, và trải nghiệm đó không hề ám ảnh họ mà lại đem lại sự dễ chịu và sự thú vị từ phản ứng tích cực. - Hãy là người chấp nhận dễ dàng việc bản thân có thể sai và có thái độ đón nhận việc đó. Luôn giữ được sự nhã nhặn và tâm thế điềm tĩnh đón nhận những giây phút vỡ lẽ rằng điều bản thân tin có thể sai (khi không có tư duy chất vấn độ tin cậy của thông tin). - Việc bản thân sai không phải lúc nào cũng là điều tồi tệ. Đó có thể là dấu hiệu cho thấy bản thân vừa hiểu biết thêm điểu gì đó và phát hiện này tạo nên niềm vui từ bên trong. - Mục đích ở nhận thức trên không phải để bản thân sai sót nhiều hơn, điều bản thân hướng đến là nhận ra việc con người thường sai lầm nhiều hơn cách chúng ta thừa nhận sai lầm, và càng phủ định chúng ta lại tiến gần đến và kẹt tại “Đỉnh Dốt” - từ hiệu ứng Dunning Kruger

  • Blog
  • Sharing

Bộ ba thấu cảm

Chúng ta đang sử dụng ngôn ngữ mơ hồ, trừu tượng khi đề nghị người khác "cảm thấy" hay "trở nên", "trở thành" như thế nào mà không chỉ rõ hành động cụ thể mà họ có thể làm để đạt được trạng thái đó. Một người bạn đề nghị:

  • Blog
  • Book
  • Sharing

Viết chút về chữ "Lãnh đạo"

Chữ Lãnh Đạo với muôn vẻ sắc màu, nhiều cách diễn đạt đôi khi bản thân ở góc nhìn trao đổi thấy quá nhiều thông tin để ý thức hiểu người khác đang nói gì, trong khi một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ý thức có thể tiếp nhận 40 bits thông tin/giây Nguồn: Shannon, C. E. (1948). “A Mathematical Theory of Communication.” Bell System Technical Journal, 27(3), 379-423. Nguồn: Cognitive Load Theory: Developed by John Swelle. Tóm gọn lại trong chữ Lãnh Đạo là:

  • Blog
  • Sharing

Chấp nhận nỗi khổ

Đây là một chân lý vĩ đại. Không chỉ là một lời than vãn, mà là một sự thật mang tính giải phóng. Bởi vì, một khi chúng ta thực sự thấu hiểu và đón nhận rằng đời là khó, thì cuộc sống sẽ không còn khó khăn như ta tưởng nữa. Việc chấp nhận chính là hành động chấm dứt vấn đề, là bước đầu tiên để vượt qua nó. Phần lớn mọi người lại chọn lối sống ngược lại. Thay vì đối diện, họ rên rỉ, kêu ca về những gánh nặng và rắc rối. Nhưng bạn có biết, những gì chúng ta học được, những gì khiến chúng ta khôn ngoan hơn, đều nằm trong quá trình đương đầu và giải quyết vấn đề , một hành trình luôn gắn liền với đau đớn. Như Benjamin Franklin đã từng nói một cách sâu sắc: "Những gì gây đau đớn cho ta đều dạy khôn ta." Người khôn ngoan không sợ hãi mà học cách đón nhận các vấn đề như những người thầy khắc nghiệt nhất của mình. Nếu đau khổ là người thầy, thì việc trốn tránh nó là hành động từ chối sự trưởng thành. Carl Jung đã đúc kết điều này một cách cô đọng: "Để tránh né những đau khổ chính đáng, người ta luôn gặp phải rối loạn tâm thần." Đó là một sự thật nghiệt ngã: khi tìm cách né tránh những nỗi khổ cần phải đối diện, ta lại tự tạo ra những rối loạn trong tâm trí, tự mình làm mình ngừng trưởng thành, và bắt đầu "lún lầy" trong sự trì trệ tinh thần. Và theo quan điểm của Robert Fritz đã ghi rất rõ trong tác phẩm của ông: "Thời gian là người thầy vĩ đại, nhưng đôi khi lại giết chết chính người học trò của mình" Đau khổ là cái giá phải trả cho sự trưởng thành. Trốn tránh nó đồng nghĩa với việc từ chối sự khai sáng. Sự khác biệt lớn nhất giữa những người mắc rối loạn là ở thái độ đối diện. Người "đa mang" đày đọa chính mình nhưng lại dễ tìm kiếm sự giúp đỡ vì họ nhận ra mình có vấn đề. Ngược lại, người "tắc trách" thì đày đọa người khác và tin rằng thế giới xung quanh mới là thứ cần thay đổi. Thông điệp cốt lõi ở đây rất rõ ràng:

  • Blog
  • Book
  • Sharing

Sức mạnh của việc không phản ứng

Trong cuộc sống bộn bề và ngày càng chuyển động vội vàng đi liền với tính đào thải nhanh, chúng ta thường xuyên đối diện với những tình huống khiến cảm xúc bùng nổ: một lời nói khó nghe, một hành động thiếu tôn trọng, hay đơn giản chỉ là áp lực công việc. Phản ứng ngay lập tức thường là bản năng, nhưng The Power of Not Reacting: How to Control Your Emotions đã chỉ ra rằng, sức mạnh thật sự nằm ở việc không phản ứng. Phản ứng bộc phát thường dẫn đến hậu quả không mong muốn. Một khoảnh khắc dừng lại để hít thở, quan sát và suy nghĩ sẽ giúp bạn tránh được những lời nói hay hành động mà sau này có thể hối tiếc.

  • Blog
  • Sharing

Góc nhìn về bệnh lý Alzheimer ra sao ?

Trong cuốn sách "Thân-Tâm-Trí" đây là sách được viết lại từ trong chuỗi workshop của Daniel J. Siegel, MD và Marion Solomon, PhD có một chương nói về tình trạng suy giảm trí nhớ, đây là căn bệnh mà ai cũng sẽ nuôi dưỡng nó không phải khi chúng ta bước sang ngưỡng tuổi già mà chính là quá trình não chúng ta không còn vận động để tiếp tục hoạt động với một tần suất phù hợp. Đó càng làm sáng hơn về câu nói "con người về bản chất là học cả đời". Chương thú vị nhất đọc về bệnh lý "Alzheimer" chứng sa sút trí tuệ ở người cao tuổi. Đây không phải là sách thiên về thần kinh nhưng những gì được viết lại rất dễ hiểu giúp bản thân có cái nhìn về bệnh lý này không phải là một căn bệnh được dán nhãn "già" mà là nền tảng từ việc chuyển đổi sang "nghỉ ngơi" - Độ tuổi hình thành kéo dài 15 năm, giai đoạn tính tại mốc 40 tuổi (hoặc sớm hơn) - Giới tính chịu ảnh hưởng nặng nhất là phụ nữ, lý do xoay quanh: tiền sử bệnh gia đình, tuổi tác, giới tính (thay đổi nội tiết tố, giai đoạn mãn kinh), cứ 1 trong 6 người phụ nữ so với 1 trong 11 người của nam giới) liên quan đến các bệnh: thần kinh, tiểu đường, chấn thương tinh thần là những yếu tố nguy cơ - Theo cách hiểu cơ chế tự nhiên: phụ nữ mẫn cảm với viêm nhiễm cao hơn nam giới. - Não luôn tạo ra các mãng và đám rối từ .... những con bọ nhỏ trong não (môi trường não không hề vô trùng như bạn nghĩ), và tại một thời điểm nào đó, khi chứng viêm xuất hiện khi tế bào thần kinh não chết đi, thì các tế bào thần kinh đệm trong não lại đi dọn dẹp sạch sẽ các vùng viêm và để lại một vùng não bị rút đi giống như cách bạn rút chỉ một tấm thảm ngẫu nhiên... Kết quả: đánh mất chính mình, không còn khả năng nói chuyện mạch lạc, làm việc phức tạp, dễ kích động và trầm cảm. - Thực tế bệnh Alzheimer nằm trong bộ gen của chúng ta. Do đó, nếu não của bạn không chống lại các mãng bám và đám rối thì bệnh sẽ không phát triển. - Việc cần làm trước 15 năm (không phải chờ đến lúc 50-65 tuổi mới đi chữa) là: chế độ ăn uống (trái cây, rau, dầu thực vật, thịt), tập thể dục để tạo các khớp cho não bộ, ngủ sâu và học cách giảm căng thẳng (giảm mật độ của amyloid được tạo ra tự nhiên trong não) - Probiotic - men sống tăng cường lợi khuẩn đường ruột, ngoài việc giúp hệ tiêu hoá còn giúp cho não. - Omega 3 (DHA và EPA) tự nhiên từ tảo chứ không phải từ dầu cá (vì mùi khét từ công nghiệp hoá học, chứa nhiều kim loại nặng như thuỷ ngân, cadimi, xêzi) - Bổ sung B3 để bổ sung năng lượng cho các tế bào khi độ tuổi ngày càng tăng, thay vì bị oxy hoá giết chết các tế bào nhanh hơn khi bị viêm nhiễm thì các tế bào não có năng lượng để tồn tại.

  • Blog
  • Sharing
  • Book

i'm BÌNH ĐINH

Welcome to my cozy internet corner, where I'm dedicated to sharing random thoughts and delightful creations. Here, I invite you to embark on a journey of creativity, simplicity, and positivity. Join me as we explore and share with enthusiasm.

Let's dive in!