Tự chủ giữa sự kiểm soát
- 21 Jun, 2024
Để bắt đầu, ta phải thừa nhận rằng con người được sinh ra với những sự khác biệt về mặt cá nhân. Ở mỗi đặc tính (chiều cao, trí tuệ, tính hung hăng hay bất kỳ thứ gì khác), con người có khuynh hướng không chỉ khác nhau mà họ còn làm vậy để phù hợp với cái gọi là sự phân bố thông thường - đường cong hình chuông quen thuộc. Điều này có nghĩa là trước khi môi trường có bất kỳ tác động nào lên con người, mỗi khía cạnh con người của họ đều đã có khởi điểm riêng. Mỗi khía cạnh trong số này có tiêu chuẩn bình thường của nó - gọi chính xác là giá trị trung bình. Chẳng hạn như có chiều cao trung bình, có IQ trung bình và hầu hết mọi người đều quay quanh giá trị trung bình đó. Càng cách xa giá trị trung bình thì càng ít trường hợp. Ví dụ: IQ trung bình là khoảng 100, và 2/3 loài người có IQ trong khoảng 90-110. Ngược lại, chỉ khoảng 2% dân số có IQ trong khoảng từ 120-140 và 2% rơi vào khoảng 60-80. Trẻ em càng có sức sống và chủ động thì càng có khởi đầu tốt hơn trong việc phát triển một dáng vẻ tự tin một cách tự chủ. Nhưng đó chỉ là khởi đầu. Ngay lập tức, môi trường sẽ bắt đầu tác động đến những quá trình này - môi trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh nếu như nó cho phép những nhu cầu cơ bản được thỏa mãn, và nó gạt bỏ sự phát triển nếu nó không đáp ứng những nhu cầu cơ bản. Dĩ nhiên, điều này đặt ra giả thuyết rằng những đứa trẻ được nuôi nấng trong môi trường nghèo khổ sẽ sống trong tình trạng tồi tệ hơn những đứa trẻ lớn lên trong môi trường được dưỡng dục đầy đủ. Nhưng nó vẫn bỏ ngỏ câu hỏi tại sao một số người lại có thể sống khá tốt bất chấp những ảnh hưởng từ môi trường này. Ta vẫn thường nghe các giáo viên nói rằng khuyến khích tính tư chủ ở những học sinh gắn kết và chủ động thì chẳng có gì khó, nhưng những đứa trẻ thụ động và hay gây hấn thì có vẻ cần phải kiểm soát. Và khi trẻ em ủng hộ sự kiểm soát, người ta rất dễ rơi vào cái bẫy kiểm soát chúng, thứ vẻ sau sẽ thành ra cản trở sự phát triển của trẻ. Một nhân viên có thể xem cách cư xử của người quản lý là khuyến khích tự chủ, trong khi người kia. lại thấy nó mang tính kiểm soát, bởi vì hai nhân viên này đối mặt với tình huống bằng những kỳ vọng và sự nhạy cảm khác nhau. Và giờ đây chúng ta đã có vài luận điểm để trả lời câu hỏi điều này xảy ra như thế nào. - Đầu tiên, những cá nhân này có thể nằm trong số phần trăm hiếm hoi những đứa trẻ vượt xa mức độ trung bình về những đặc tính tâm lý (và có lẽ cả thể chất nữa) mà có thể góp phần phát triển theo những cách lành mạnh, tự chủ. - Thứ hai, những cá nhân này có thể tìm được ai đó đặc biệt để cho họ sự ủng hộ mà họ cần. Thứ ba, họ có thể thật sự tác động đến những người trưởng thành lạnh lùng và kiểm soát trong đời để ít bị kiểm soát và lạnh lùng hơn đôi chút. Và, cuối cùng, họ có thể phát triển những kỳ vọng khiến họ diễn giải nhiều tình huống khác nhau thành sự khuyến khích tự chủ hơn là chúng thật sự như vậy. Thách thức ở đây là phải khuyến khích sự tự chủ ngay cả với những cá nhân buộc chúng ta phải kiểm soát họ. Chính những cá nhân thụ động, phục tùng hay ương bướng mới là những người cần một bối cảnh quan hệ cá nhân tối ưu - với sự kết nối, khuyến khích tự chủ, hay thiết lập giới hạn nhạy cảm - nhưng đây cũng là những cá nhân mà chúng ta phải rất khó khăn mới có thể trao cho họ bối cảnh đó. Tất cá mọi người đều tự chủ ở một mức độ nào đó, đó chính là khía cạnh đã dản dất con người tìm kiếm những bối cánh khuyến khích tự chú và tác động đến người khác để họ đối xử với mình theo cách khuyến khích tự chủ hơn. những người thiên về tự chủ sẽ có lòng tự trọng và khả năng tự hiện thực hóa cao hơn. Họ cũng chứng tổ sự hợp nhất trong tính cách lớn hơn. người có khuynh hướng tự chủ cao cũng có sức khỏe tinh thần tích cực và cho thấy sự hài lòng với các mối quan hệ liên cá nhân của mình hơn. Điều quan trọng cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành là mức độ tự chủ, sáng tạo, sức sống, và động lực nội tại của con người được quyết định bởi sự tương tác giữa những tính cách riêng của họ (thứ mà chúng ta gọi là sự định hướng tự chủ) với mức độ khuyến khích tự chủ của bối cảnh xã hội. Dần dần, những người quản lý phát hiện ra rằng khi họ giúp đỡ cấp dưới nhiều hơn thì những người ngang hàng với họ và cả cấp trên cũng sẽ giúp đỡ họ nhiều hơn. Một sự hợp lực quả thật đã phát triển, và sự thay đổi trong hành vi của tám người quản lý là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến hiệu ứng tích cực đó. Cảm xúc là những phản ứng đáp lại tác nhân kích thích thực tế hay tưởng tượng trong tình cảnh hiện tại hoặc trong ký ức. Những tác nhân kích thích tạo nên phản ứng cảm xúc của con người lại không mang ý nghĩa phổ quát. Những ý nghĩa này bắt nguồn từ việc tác nhân kích thích liên quan như thể nào với nhu cầu, ước muốn và kỳ vọng của con người. Quá trình truyền ý nghĩa cho các tác nhân kích thích gợi ra cảm xúc bao gồm hai phần, do nhà tâm lý học Magda Arnold chỉ ra. Khi con người gặp phải các tác nhân kích thích cụ thể, họ sẽ trực cảm được một ý nghĩa gần như tức thời và có một khuynh hướng sẵn có để hồi đáp những ý nghĩa trực cảm cụ thể theo những cách cụ thể. Nỗi sợ và sự giân dữ của bạn sẽ tan biến khi bạn đánh giá lại những gì đang thật sự diễn ra. Chính quá trình đánh giá lại - sự đánh giá mang tính suy xét nhiều hơn - cho con người sức mạnh vượt lên cảm xúc của họ, và đây cũng là quá trình mà Jim Astman đã nhấn mạnh trong bài hát của anh. Quá trình gán cho tác nhân kích thích những ý nghĩa ít đe dọa hơn có thể là một công cụ rất mạnh cho sự tự chỉnh đốn, nhưng không may là không phải lúc nào ta cũng đạt được điều đó dễ dàng. Bạn phải nỗ lực thực hiện nó. Sự tức giận bắt nguồn từ việc diễn dịch một lời bình luận thành mối đe dọa, nhưng lời bình luận chi trở thành mối đe dọa khi giá trị bản thân của con người bị mắc kẹt với việc phải được xem là mạnh mẽ. Con người có thể tự hỏi: "Được nhìn nhận là mạnh mẽ (nữ tính, sáng tạo, thông minh, hay đại loại vậy) có thật sự quan trong hay không?". Liệu điều đó có thật sự đáng để dốc tâm bỏi đắp, và có thể nào cư xử theo những cách này họ sẽ hối tiếc về sau không? Thật thú vị khi nhận ra rằng thông qua việc bị ràng buộc với cái tôi, con người đã trao cho người khác một thứ vũ khí. Và những người khác sẽ nhanh chóng học được cách sử dụng nó. Chẳng có gì đe dọa đến cái tôi nếu con người không tự diễn dịch nó như vậy - nếu họ không đe dọa cái tôi của họ với điều đó. Nếu không có hệ quả thực tế nào gắn với một lời xúc phạm, như là bị chối bỏ, bị bỏ rơi, bị sa thải, thì người ta có thể học cách hiểu lời xúc phạm đó như là sự công kích của người nói và không cảm thấy bị đe dọa, kể cả nó có khiến ta đau đớn ít nhiều. Một phần trong cách để con người vượt lên trên hoàn cảnh chính là để tâm đến những ràng buộc cái tôi của họ, để bất đầu khám phá xem điều gì đang khiến họ bị cuốn theo. Khi đó họ có thể tự hỏi mình rằng liệu có thật sự cần thiết để gây áp lực và kiểm soát bản thân họ theo cách đó hay không. Bằng cách khám phá những ràng buộc cái tôi của mình, con người có thể tìm ra những cách để ít phán ứng ít bị kiểm soát và trông như một con tốt hơn. Chỉnh đốn những cảm xúc của một người bằng cách thay đổi sự diễn giải mà họ gán cho các tác nhân kích thích khơi gợi cảm xúc chỉ là một trong hai bước cần thiết để trở nên hợp nhất và tự chủ hơn về mặt cảm xúc - và trong quá trình này, cho bản thân một phương tiện để vượt lên những tác động mang tính kiểm soát. Các cảm xúc đều có những khuynh hướng hành vi cụ thể gắn chặt với chúng. Trở nên tự chủ bao gôm việc phát triển các quá trịnh chính đón được tích hợp để kiểm soát hành vì khi cảm xúc bị kích thích. Khi làm như vây, con người có thể trái nghiêm sữ lưa chọn đích thực liên quan đến hành vì của mình khi họ giận dữ, phẫn nộ hay vui vẻ. Họ có thể chọn nói vè nó hoặc không; họ có thể chọn cách kéo dài nó, hoặc không: họ có thể chọn giải quyết vấn đề, hoặc không; hoặc họ đơn giản có thể chọn cách rồi khỏi hiện trường. Ở mức độ mà con người đã hợp nhất đối với một cảm xúc, họ sẽ thấy được cảm giác tự do trong cách hành xử. Cảm xúc không quyết định hành vi, thay vào đó, nó là một máu thông tin. liên quan đến quá trình chọn lưa cách cự xử. Hành vi sẽ được chọn lựa dựa trên việc nhận thức về cảm xúc và cân nhắc những mục tiêu họ muốn đạt được. Khi con người tự chủ, họ sẽ cho phép mình trải nghiệm cảm xúc một cách trọn vẹn và họ sẽ cảm thấy tự do trong việc quyết định cách thể hiện chúng. Ngược lại, khi hành vi do cảm xúc thúc đẩy bị kiểm soát bởi các quá trình điều chỉnh đã được nội nhập, thì khi trái nghiệm cảm xúc cụ thể đó con người sẽ hành xử theo những cách được lập trình, cứng nhắc. Tức giận, một sự nội nhập có thể thúc ép con người phải trừng trị những ai chọc giân họ. Sự nội nhập đó có thể nói rằng: "Đó là cách bạn giữ thể diện". Hoặc theo cách khác, nó có thể ép người ta không để cho người khác biết họ đang giận dữ. Bằng cách sử dụng cảm xúc như một gợi ý, con người có thể tự hỏi bản thân hai câu hỏi quan trọng. Đầu tiên, "tôi đang không có được điều gì?". Và thứ hai, "tôi có thật sự cần nó không?" . Cảm xúc cho thấy sự khác nhau giữa tình trạng hiện tại của con người và một vài tiêu chuẩn họ đang theo đuổi. Điều này có nghĩa là nó sẽ hữu dụng cho họ trong việc tìm cách nhận được những gì họ muốn (chẳng hạn như sự khuyến khích tự chủ từ người khác nhiều hơn hay những mối quan hệ liên cá nhân khiến ta hài lòng hơn), hoặc nó có thể ngụ ý rằng những mong muốn hay khao họ đang ấp ủ là không cần thiết hay vô lý. Cuộc sống mà một số người đang theo đuổi là niêm tin rằng tất cả những gì họ muốn trong đời là được hạnh phúc. Thực tế, hạnh phúc không tuyệt vời như những gì người ta nói và dẫu sao thì hầu hết mọi người đều không thật sự mong muốn lúc nào mình cũng phải hạnh phúc. Họ tìm kiếm nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau - cả cái được gọi là tiêu cực cũng như cái được cho là tích cực. Sự kinh hoàng không phải là hạnh phúc. Nỗi buồn, sự phẫn nộ hay tức giận cũng không. Và thật vô lý khi nói rằng việc cảm thấy tức giận hay phẫn nộ khiến ai đó hạnh phúc. Hạnh phúc đơn giản là một khái niệm sai lầm đối với những gì nằm trong bản chất của con người, những gì họ tìm kiếm và những gì thúc đẩy sự phát triển của con người. Khi con người chỉ muốn hạnh phúc, họ có thể thật sự hủy hoại sự phát triển của chính mình, bởi vì cuộc truy tìm hạnh phúc có thể khiến họ đè nén những khía canh khác của trải nghiệm. Mong mỏi hạnh phúc có thể làm cho người ta né tránh (tức là đè nén) nỗi buổn khi một người họ yêu thương qua đời, hay né tránh nỗi sợ hãi khi phải đối mặt với hiểm nguy. Ý nghĩa đích thực của việc sống không chỉ là để cảm thấy hạnh phúc, mà còn để trái nghiệm mọi cung bậc cảm xúc của con người. Chừng nào việc kiếm tìm hạnh phúc còn cản trở việc tải nghiệm các Cảm xúc khác, thì hệ quả tiêu cực còn có khả năng xảy ra. Họp nhất và tự chú có nghĩa là cho phép bản thân cảm nhận các cảm xúc - tất cả các cảm xúc - rồi quyết định xem phải làm gì với chúng. Tuy nhiên, nó chỉ hữu ích trong việc giúp ta phân biệt các cảm giác chừng nào các cảm xúc còn "thuần khiết". Có những cảm xúc cơ bản là cốt lõi của trải nghiệm con người, như vui vẻ, buồn rầu, hào hứng, giận dữ, và cũng có những cảm xúc phủ một lớp vỏ nhận thức bên ngoài. U uất không phải là một cảm xúc thuần khiết. Nó thường bị nhầm lẫn với nỗi buồn nhưng hai thứ thật ra hoàn toàn khác nhau. Nỗi buồn thì thuần khiết, và khi một ngươi cam thấy buồn, họ đang được nó nuôi dưỡng. Còn u uất chỉ chất chứa sự tự hạ thấp, lo âu và hồ nghi. Ư uất không hề mang tính nuôi dưỡng; nó khiến ta hoang mang và kiệt sức. Nó mang tính không thích nghi. Tự phụ, theo một nghĩa nào đó, cũng giống như u uất. Trong khi u uất là kết quả của thất bại và mất mát khi một người nội nhập các tiêu chuẩn, thì tự phụ chính là kết quả của việc đáp ứng được những tiêu chuẩn đó. Tự phụ, cũng như u uất, đều không thuần khiết. Nó được bao phủ bởi sự kiêu căng về bản thân và hạ thấp giá trị của những người khác. Tự chủ không có nghĩa là ngăn chặn việc nhận thức những cảm xúc chỉ vì những lời khuyên răn đã được nội nhập, cũng không có nghĩa là để cho chúng lấn át ta. Nó có nghĩa là trải nghiệm chúng một cách trọn vẹn và cam nhận được ý nghĩa của việc lựa chọn cách thể hiện chúng. Khi đề cập đến các vấn đ về động lực, con người dường như luôn cần những phương pháp để thúc đẩy và kiểm soát bản thân. Nhưng sự thật là chẳng có phương pháp nào thúc đẩy con người hay làm cho họ tự chủ cả. Đông lực phải xuất phát từ bên trong, chứ không phải từ những phương pháp. Việc sử dụng các phương pháp chỉ có ích khi nó đúng với một người, và chỉ khi người đó đưa ra một lựa chọn thay đổi thật sự. Điểm khởi đầu cho sự thay đổi chính là chấp nhận chính mình và thế giới nội tâm của mình. Người ta có thể tự hỏi: "Tại sao tôi lại ăn quá nhiều? Tại sao tôi lại quát vợ mình? Tại sao tôi lại dành quá ít thời gian cho các con? Tại sao tôi quá phụ thuộc vào thuốc lá?". Ngay từ đầu, con người thực hiện những hành vi này - có lẽ là nhiều năm hay thậm chí hàng chục năm trước - bởi vì những hành vi đó là giải pháp tốt nhất họ có thể tìm ra để đương đầu với một tình cảnh khó khăn. Tìm hiểu lý do khiến người ta làm việc gì đó có thể là một khởi đầu hữu ích nhưng nó không nên là cái cớ để ta đổ lỗi. Quá trình thay đổi trở nên dễ dàng hơn nhờ nhận thức được lý do tại sao con người đang thực hiện những hành vi không thích ứng, tương tự như vậy, quá trình sẽ bị cản trở bởi việc đổ lỗi về hành vi đó cho bản thân hay cho người khác. Khi con người thật sự quan tâm đến lý do tại sao họ làm một việc gì, và cá nhân họ cam kết tạo ra một sự thay đổi, thì việc đổ lỗi là không thích đáng. Hãy nhớ những gì Charlotte Selver từng nói: "Dám béo. Quan tâm đến lý do vì sao bạn béo. Và rồi bạn sẽ sẵn sàng để gày". Những thay đổi có ý nghĩa xuất phát từ sự sẵn sàng về mặt sinh học. Nó xuất hiện khi con người cảm thấy đã đến lúc thay đổi, khi họ sẵn sàng đưa ra một cam kết cho từng khoảnh khắc. Áp lực chẳng giúp ích được gì; thật ra, nó cũng giống như việc đổ lỗi cho bản thân, chỉ có khả năng làm họ tổn thương. Khi con người thấy áp lực, họ sẽ tuân thủ hoặc bất tuân. Sự tuân thủ tạo ra những thay đổi không thể duy trì, và sự bất tuân sẽ ngăn chặn thay đổi ngay từ đầu.
- Blog
- Book
- Sharing
Thúc đẩy hành vi lành mạnh
- 29 May, 2024
Nếu những cáo phó kể lại toàn bộ câu chuyện về cái chết của con người, thì quá nửa sẽ chỉ ra rằng người "... đã kết thúc sớm cuộc đời mình". Cụm từ này không nhằm ám chỉ việc tự sát, theo nghĩa thông thường, mà để nhấn mạnh hiện thực ràng hành vi và các tác nhân tâm lý ảnh hưởng đến nó đều là những thứ chủ yếu dẫn đến cái chết. Chẳng hạn, một nghiên cứu gần đây tiến hành bởi các bác sĩ J. Michael McGinnis và William Foege đã chỉ ra rằng sử dụng thuốc lá và rượu, cũng như các chế độ ăn và việc rèn luyện cơ thể, đều là những nguyên nhân dẫn đến một phần ba số người chết ở Mỹ, thường gây ra sự khởi đầu cho các căn bệnh nan y như ung thư và bệnh tim mạch. Có thể nói rằng, con người đang "tự đưa mình đến chỗ chết" và cáo phó chỉ ghi lại căn bệnh - ung thư hay nhồi máu cơ tim như nguyên nhân dẫn đến cái chết của họ mà thôi. Một phần vì tính nghiêm trọng đã biết của những rủi ro sức khỏe khi sử dụng thuốc lá và béo phì, nên cai thuốc lá và chế độ ăn kiêng đã trở thành một ngành kinh doanh lớn. Danh sách sách bán chạy nhất của The New York Times đưa ra thường xuyên có một quyển nói về ăn kiêng; các chương trình cai thuốc lá cũng nảy nở nhanh chóng. Tất cả những điều này cho thấy người ta có sự hiểu biết nhất định về những rửi ro và lợi ích của các hoạt động liên quan đến sức khỏe, vậy nên họ đã nỗ lực thay đổi. Nhưng kết quả nhìn chung lại ảm đạm. Dường như quá hợp lý, quá tự nhiên - thật ra là vì bản năng sinh tồn - khi người ta hạn chế lượng còn nạp vào cơ thể, ăn kiêng và tập thể dục hay cai thuốc. Nhưng rồi vẫn có nhiều người tiếp tục hành vi không lành mạnh của họ. Chính vì vậy, có thể đặt ra câu hỏi rằng tại sao tất cá những người tham gia chương trình trị liệu không sẵn sàng chịu trách nhiệm cho hành vi ăn uống của họ, và tổng quát hơn là tại sao con người không hoàn toàn sẵn lòng tự chỉnh đốn một cách tự chủ những hành vi mà sẽ giúp họ khỏe mạnh hơn. Lý do, khá đơn giản, chính là vì việc lạm dụng rượu bia, cũng như hút thuốc và ăn quá nhiều, đều phục vụ cho một mục đích. Chúng trói buộc sư lo lắng lai, đưa ra một lõi thoát khỏi những áp lực, hay cho con người một kiểu thoải mái tương tự khác. Chẳng hạn, uống rượu bia có thể làm giảm cảm giác cô đơn, ăn có thể giúp người ta tránh cảm giác lỏ sợ bị loại ra ngoài, và hút thuốc có thể giúp họ chịu đựng cảm giác căng thẳng khi vô tình chạm mặt một nhóm người trong môi trường xã hội. Mỗi một hành vi đều có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau khiến họ chống lại sự thay đối. Ví dụ: hãy tưởng tượng một người đàn ông - một nhân viên quảng cáo độ ba mươi - thường nốc rượu bia để lên tinh thần trong những lần hiếm hoi anh ta cảm thấy suy sụp, nhưng cũng dùng nó để bình tâm lại mỗi khi bị kích động quá mức sau một ngày làm việc căng thẳng. Trên thực tế, với anh ta, thức uống có cồn là một thứ thuốc giảm đau đầy cám dỗ và đa năng cho bất kỳ sự thay đổi tâm trạng nào. Để sẵn sàng thay đổi những hành vi tự hủy hoại bản thân, con người phải đi đến chỗ sẵn sàng chấp nhận những cảm xúc mà các hành vi đó đang khóa chặt. Con người phải sẵn sàng cảm nhận cảm giác khủng khiếp của sự thiếu thốn, nỗi sợ hãi đau đớn khi bị ruồng bỏ, nối kinh hoàng trước việc họ có thể chết, hay bất cứ cảm giác gì không ngừng truyền thêm sức mạnh cho những hành vi không lành mạnh. Họ cũng phải sẵn sàng "cảm thấy khác biệt" so với người khác khi uống nước khoáng tại một bữa tiệc, trong khi những người khác uống rượu mạnh; họ phải sẵn sàng cưỡng lại những món tráng miệng ngon lành ngay trước mắt; và họ phải sẵn sàng đứng lên chạy bộ khi lẽ ra có thể ngồi xem ti-vi. Khi con người sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm - trách nhiệm ở mức sâu sắc và tuyệt đối nhất - cho những hành vi liên quan trực tiếp đến hạnh phúc của họ, thì lợi ích thu về có thể sẽ rất tuyệt vời. Thành công của con người trong việc thay đổi hành vi bắt đầu khi họ thật sự quan tâm đến những động lực của chính mình. Điều này có nghĩa là họ phải tự hỏi tại sao họ lại cố gắng thay đổi và thành thật suy nghĩ về câu trả lời. Nếu những lý do họ nghĩ ra là những người xung quanh đang gây áp lực cho họ, hay họ nghĩ rằng mình nên thay đổi để sống lâu hơn, hoặc họ muốn tương xứng với một hình ảnh nào đó, thì họ sẽ có một khởi đầu tồi tệ. Những lý do này không thật sự thuyết phục và chúng không có khả năng thúc đẩy một sự thay đổi có ý nghĩa bởi vì chúng thiếu sự tán thành cá nhân. Quyết định thay đổi là thứ mà những cá nhân phải đưa ra cho bản thân họ. Nó có nghĩa là khám phá nguyên do tại sao họ muốn thay đổi, đồng thời chú ý đến những lợi ích họ nhận được từ hành vi đó. Khi khám phá những động lực của mình, họ sẽ ở vào vị trí có thể đưa ra lựa chọn đúng. Sự lựa chọn có thể là thay đổi, nhưng cũng có thể là vẫn tiếp tục hành vi đó. Tùy vào bản thân họ. Nhưng chừng nào họ còn chưa quan tâm đến những động lực cơ bản và đưa ra lựa chọn thật sự, thì những hành vi tự hủy hoại bản thân vẫn tiếp tục "kiểm soát họ". Khám phá động lực của một người có thể là một quá trình cam go và đưa ra được một lua chọn đúng cũng có thế là điều khó khăn. Vậy thì nhìn chung, khi con người tự chủ hơn - tức là khi họ có động lực nội tại nhiều hơn và hợp nhất được điều lệ của các hành vi quan trọng - thì họ không chỉ ít có khả năng thực hiện những hành vi rủi ro cao ngay từ đầu, mà còn có thể thay đổi những hành vi đó nếu bị chúng lôi kéo. Cách tiếp cận sinh học-tâm lý-xã hội để điều trị chú trọng việc xây dựng một mối quan hệ hợp tác giữa những người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và bệnh nhân của họ. Nó thừa nhận tầm quan trọng của việc điều trị toàn diện và thừa nhận rằng các quá trình xã hội-tâm lý cũng cần thiết để khỏe mạnh. Do đó, cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng cách một nhà trị liệu kết nối với bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến việc bệnh nhân có hành động một cách lành mạnh như uống thuốc, giảm cân, ngừng hút thuốc hay không. Các nhà trị liệu khuyến khích bệnh nhân chủ động quản lý sức khỏe của họ - đặt câu hỏi và tham gia đưa ra những giải pháp khả thi cho các vấn đề về chăm sóc sức khỏe. Đương nhiên, bác sĩ sẽ cung cấp thông tin có giá trị và đưa ra những đề xuất về kế hoạch điều trị, nhưng bệnh nhân được khuyến khích suy nghĩ về các phương án và đóng vai trò nào đó trong việc quyết định kế hoạch. Nhờ đó, bệnh nhân sẽ không chỉ cung cấp những quan điểm đáng giá về bản thân họ - chính bệnh nhân mới là người biết rò minh có thể làm gì, chứ không phải nhà trị liệu - trong mọi linh vực hoạt động của con người, người ta thừa nhận rằng khi con người đóng một vai tro trong viẹc quyết định làm gì và làm như thế nào, họ sẽ tận tâm hoàn thành quyết định đó hơn. Tất cả các đặc tính của việc khuyến khích tự chủ - đứng ở góc nhìn của người đó, trao quyền lựa chọn, cung cấp thông tin liên quan mà người đó không thể tiếp cận, đưa ra nguyên do cơ bản đằng sau những đề nghị hay yêu cầu, hiểu được cảm xúc của người đó, giảm thiểu những thái độ và ngôn ngữ mang tính kiểm soát - mô tả một cách hoàn hảo việc phải tâm lý và lấy bệnh nhân làm trung tâm trong thực hành y học có nghĩa là gì. Chúng giúp ta xây dựng những mối quan hệ hợp tác và chúng là những hành vi và thái độ mà cách tiếp cận sinh học-tâm lý-xã hội được ủng hộ ở các bác sĩ. Trách nhiệm và khuyến khích tự chủ, khi các nhà trị liệu khuyến khích tự chủ, họ có thể hiểu được và chấp nhận lý do tại sao một bệnh nhân lại hút thuốc, uống rượu bia hay ăn quá nhiều. Và với sự thấu hiểu đó, họ sẽ có thể cùng bệnh nhân xây dựng những kế hoạch điều trị có khả năng thành công. Những kế hoạch điều trị được vạch ra từ góc nhìn của một bác sĩ mà không cân nhắc đến những nhu cầu của riêng bệnh nhân và những trở ngai mà bệnh nhân phải đối mặt thì đều có khả năng thất bại.
- Blog
- Book
- Sharing
Làm thế nào để thúc đẩy tính tự chủ
- 15 May, 2024
Bất kể người khác đối xử như thế nào với một đứa trẻ, điều tốt nhất bạn có thể làm chính là khuyến khích trẻ tự chủ. Khuyến khích tự chủ là một sự định hướng cá nhân mà bạn có thể làm cho người khác, đặc biệt là những người ở vị thế bề dưới. Định hướng này làm tăng thêm hứng thú trong mọi khía cạnh trong sự tương tác giữa bạn với họ. Nó đòi hỏi ta phải có khả năng đứng ở góc nhìn của người khác, có thể nhìn thế giới như những gì họ thấy. Nhờ đó, nó giúp bạn hiểu được tại sao họ lại muốn những gì họ muốn và tại sao họ làm những gì họ làm. Nói một cách đơn giản, khuyến khích sự tự chủ với tư cách một người quản lý nghĩa là có thể hiểu được việc trở thành một nhân viên của bạn, trong công ty, cộng đồng và ngành của bạn là như thế nào. Những người quản lý khuyến khích tự chủ sẽ có những nhân viên tin tưởng vào công ty hơn, ít để tâm đến tiền bạc và lợi ích hơn, thể hiện mức độ hài lòng lẫn tinh thần cao hơn. Một trong những đặc tính chính của việc khuyến khích tự chủ là trao quyền lựa chọn, mà bạn buộc phải chia sẻ quyền lực hay sức mạnh của vị thế bề trên của mình. Việc trao quyền lựa chọn có thể được thực hiện ở các cấp độ cá nhân và cấp độ nhóm. Nói cách khác, một phần của việc khuyến khích tự chủ chính là cho phép các cá nhân trong lớp học hay nhóm làm việc của bạn tham gia vào việc đưa ra những quyết định về các vấn đề liên quan đến bản thân họ, và phần còn lại là chia sẻ việc đưa ra quyết định với toàn nhóm. Những người quản lý, giáo viên khuyến khích tự chủ và có sức ảnh hưởng nhất sẽ cho phép nhân viên hay học sinh của họ đóng một vai trò trong việc đưa ra quyết định. Mặc dù trao quyền lựa chọn và khuyến khích tham gia vào việc đưa ra quyết định liên quan đến việc quyết định sẽ tham gia hoạt động gì, nhưng vẫn có những hạn chế với điều này. Nhiều người quản lý đã chia sẻ rằng thật ra chẳng có chỗ đâu để cấp dưới của họ lựa chọn việc nên làm chúng tôi phải làm rất nhiều thứ rồi. Có những thứ buộc phải thực hiện, có những nhiệm vụ phải được hoàn thành vì công việc, và có những chủ đề phải được triển khai trong lớp học. Nhưng gần như luôn có một chỗ nào đó để quyết định phải làm những gì, và vấn đề là giáo viên hay nhà quản lý nào thật sự khuyến khích tự chủ sẽ chấp nhận những quy định và xử lý chúng. Trao quyền lựa chọn cách thực hiện một nhiệm vụ thậm chí còn dễ hơn trao quyền lựa chọn nhiệm vụ cần làm. Khi cấp trên của một quản lý chỉ định những việc cần làm, người quản lý đó vẫn có khả năng để nhóm quyết định cách thực hiện. Chẳng hạn như, với một nhiệm vụ có nhiều phần, nhóm có thể quyết định cách phân chia, cho phép lựa chọn việc cần làm có nhiều ưu điểm khả thi. Trước hết, ở nơi làm việc, sẽ thực hiện một quyết định được tham gia vào việc đưa ra quyết định đó, thì có thể quyết định đó sẽ có chất lượng cao hơn là khi quản lý quyết định một mình. Hơn nữa, các nghiên cứu đã xác nhận rằng lựa chọn giúp cũng cố động lực nội tại của con người, nên khi người ta tham gia vào việc quyết định cần làm gì, họ sẽ được thúc đẩy và tận tâm với nhiệm vụ đó. Để chắc rằng nhiệm vụ sẽ được hoàn thành tốt đẹp. Con người nghiêm túc đối mặt với thử thách tìm cách trao quyền lựa chọn càng nhiều, thì họ sẽ càng có khả năng thấy công việc khiến họ hài lòng hơn, và sẽ có những hồi đáp tích cực hơn. Ngay cả những người tin vào sức mạnh của sự lựa chọn cá nhân có thể tự hỏi rằng liệu trao quyền lựa chọn có phải lúc nào cũng tốt nhất hay không. Chắc chắn câu trả lời là không và có một vài điều cần nhắc Được nhận thấy là hữu ích trong việc xác định xem khi nào là phù hợp nhất để trao quyền quyết định. Liệu quyết định đó có thúc đẩy sự căng thẳng và mâu thuẩn nếu những người khác tham gia vào hay không. Một điều ta cần phải suy xét nữa chính là công việc cụ thể đó có phù hợp để mọi người cùng đưa ra quyết định hay không, căn cứ vào mức độ trưởng thành của họ. Nói một cách đơn giản, mặc dù đề suất lựa chọn và để cho học sinh, con cái, nhân viên tham gia vào việc đưa ra quyết định, xét về mặt động lực, là điều đáng ao ước, nhưng vẫn có những hậu quả khác nhau mày ở đó có thể không thiết thực và có hại. Con người đã bị đẩy đến giới hạn do bị kiểm soát quá nhiều trong quá khứ. Nên nhớ rằng nếu bạn kiểm soát người khác đủ nhiều, họ có thể bắt đầu hành động như thể họ muốn bị kiểm soát. Chiến lược tự bảo vệ mình, họ bắt đầu tập trung vào bên ngoài, tìm kiếm những dấu hiệu về điều mà những người ở vị thế bề trên mong trở họ, tìm kiếm thứ tránh khỏi rắc rối. Ít nhất ở một mức độ nào đó, có người quen với việc bị kiểm soát và hành động như thể họ không muốn điều thật sự cần thiết cho bản thân của mình, tức là cơ hội được tự chủ. Có lẽ họ sợ rằng mình sẽ bị đánh giá, thậm chí có thể bị phạt, nếu đưa ra sự lựa chọn sai lầm và có khả năng là như vậy thật. Đương nhiên, thỉnh thoảng khi giáo viên và quản lý bảo chúng ta rằng, con người không muốn lựa chọn thật ra họ chỉ đang bào chữa cho hành vi kiểm soát của mình, nhưng đôi lúc họ biết mình đang nói điều gì. Tuy nhiên, nếu họ đúng, có lẽ bởi vì chính bản thân họ, hay phụ huynh, giáo viên, quản lý, những người mà trước đây họ từng tiếp xúc, đã kiểm soát và không cho họ quyền lựa chọn. Khi con người ở những vị trí với quyền thích kiểm soát, thì cũng gần giống như họ đang tước đi linh hồn của những người mà họ được cho là phải giúp đỡ. Tất cả những điều này đều có nghĩa làm việc khuyến khích tự chủ có thể rất khó khăn, đặc biệt với những người đã quen bị kiểm soát. Do đó, chúng ta phải kiên nhẫn, chúng ta phải làm việc với học sinh và những viên đã đánh thức những gì căn bản trong bản chất của họ và những gì gần như chắc chắn sẽ dẫn họ đến kết quả tốt đẹp hơn. Chúng ta cần thúc đẩy sự tự chủ của họ, một phần bằng cách trao cho họ quyền lựa chọn. Khuyến khích tự chủ không có nghĩa là dung túng cho tính vô trách nhiệm, cũng không có nghĩa là cho phép con người tham gia vào những hoạt động nguy hiểm hay gây hại. Trọng tâm của việc thúc đẩy tự chủ là khuyến khích con người hiểu được những quyền lợi của họ dừng lại ở đâu và quyền lợi của người khác bắt đầu ở đâu. Thiết lập nên các giới hạn là một cách để truyền đạt về các quyền của con người và về những ràng buộc tồn tại trong xã hội. Như vậy, nó giúp con người học cách có trách nhiệm trong việc đưa ra lựa chọn. Khi những giới hạn là điều tất yếu, sẽ có vài suy xét quan trọng giúp ta chắc rằng việc lập ra những giới hạn không hủy hoại sự tự chủ. cách đề ra những giới hạn cũng khá quan trọng. Chẳng hạn, việc tránh những ngôn từ mang tính kiểm soát và nhận biết sự kháng cự của con người có thể tạo điều kiện cho họ sẵn lòng chấp nhận những giới hạn. Hãy thử lấy một trải nghiệm thường ngày làm ví dụ, một người mẹ bảo con trai: "Con cứ chơi thoải mái trong hộp cát, nhưng đừng ném cát ra ngoài bải cỏ nhé". Việc thiết lập một giới hạn có thể làm cậu bé mất vui cả ngày, nhưng thật ra không cần phải vậy. Người mẹ có thể làm nhẹ bớt gánh nặng của chính cô (và của con trai) nếu bỏ qua những từ hay cụm từ tạo áp lực như "hãy làm như con nên làm" hoặc "nhớ ngoan nhé" . Vả lại, đứa con sẽ có thể chơi vui vẻ mà không ném cát đi nếu người mẹ thừa nhận rằng cô biết con có thể muốn ném cát lung tung. Tất cả những điều này cho thấy rằng cô hiểu được góc nhìn của con chứ không chỉ đơn giản là cố áp đặt. Khi những người đang bị đặt giới hạn hiểu được nguyên do cần có giới hạn, họ có thể chấp nhận chúng mà không cảm thấy bị hủy hoại. Nếu người mẹ giải thích với con trai tại sao việc không ném cát lại quan trọng - chẳng hạn, nó sẽ làm có chết và sẽ chẳng còn cát để lần sau chơi nữa - cậu bé sẽ có thể học được một điều quan trọng cùng lúc với việc được trao cho một lý do có ý nghĩa để giữ giới hạn. đến việc thiết lập giới hạn. Tạo ra những giới hạn càng rộng càng tốt và cho phép lựa chọn trong giới hạn sẽ giúp người khác không cảm thấy bị hạn chế. Đặt ra những hậu quả tương ứng với mỗi vi phạm cũng là một yếu tố cần thiết để thiết lập giới hạn hiệu quả. Chặt đứt luôn bàn tay đang thò vào hũ bánh quy bị cấm thì quá cực đoan. Khi đặt ra những giới hạn, con người đang tạo ra "những quy định", vậy nên quan trọng là phải rõ ràng về việc sống với "những quy định" và hậu quả khi vi phạm chúng. Vấn đề này đòi hỏi ta phải suy nghĩ kỹ, vì một khi các giới hạn được thiết lập và những hậu quả đã được cảnh báo, thì điều quan trọng là cần làm theo chúng; nếu không, người ta sẽ hủy hoại tín nhiệm của bản thân. Hậu quả của việc vi phạm không giống như hình phạt. Hình phạt là phương tiện để kiểm soát con người, nhưng thiết lập giới hạn không phải kiểm soát, mà là khuyến khích tính trách nhiệm. Theo Edward Tolman và Kurt Lewin, hai nhà tâm lý học lưu vong người Đức có sức ảnh hưởng lớn, hành vi con người phục vụ cho một mục đích, với tuyên bố đó họ ngụ ý rằng hành vi có động lực được định hướng đến những kết quả nhất định. Con người hành xử đúng mực khi kỳ vọng mình có thể đạt được những mục tiêu. Nhờ hướng đến các mục tiêu, họ sẽ bám lấy lộ trình và có thể đánh giá những gì đang diễn ra để xem liệu họ có đang tiến bộ hay không. Để các mục tiêu hoạt động hiệu quả nhất, chúng cân được cá nhân hóa - chúng cần phải phù hợp một cách đặc thù với người thực hiện - và chúng cần được thiết lập để thể hiện một thử thách tối ưu. Khi mục tiêu quá dễ dàng, người đó có thể chán nản và mất động lực, khi mục tiêu quá khó, người đó sẽ lo lắng và làm việc không hiệu quả. Cách tốt nhất để đặt ra những mục tiêu tối ưu cho một nhóm làm việc và thành viên của nó - hoặc cho một lớp học và toàn bộ học sinh trong đó - chính là để mọi người tham gia vào quá trình này. Khuyến khích tự chủ tạo ra các mục tiêu tối ưu mà con người sẽ hết lòng thực hiện, bởi vì bản thân họ đóng một vai trò chủ động trong việc định hình nên các mục tiêu đó. Việc đánh giá hiệu năng của một người luôn dựa trên tiêu chuẩn rõ ràng hay tiêu chuẩn được ngâm hiểu. Đánh giá con người đang làm tốt hay kém sẽ chỉ liên quan tới một tập hợp kỳ vọng về sự thể hiện của họ trong một công việc nhất định, tại một thời điểm nhất định. Nếu mục tiêu được đặt ra một cách chính xác, họ có thể hình dung ra tiêu chuẩn để đánh giá hiệu năng làm việc. Điều tuyệt vời ở đây là nếu người ta được tham gia vào việc đặt ra những mục tiêu, thì họ cũng có thể tham gia vào việc đánh giá hiệu năng của mình. Còn ai biết rõ hơn chính bản thân họ rằng họ đã làm tốt ra sao? Trong bắt kỳ quá trình đánh giá nào, khi hiệu năng không đáp ứng được tiêu chuẩn, thì điều quan trọng là phải xem tình huỗng như một vấn đề cần giải quyết, chứ không phải như cơ sở để chỉ trích. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Khi xã hội mục nát
- 10 May, 2024
Các nhà nghiên cứu tập trung vào sáu loại khát vọng. Ba trong số đó là những gì chúng ta gọi là khát vọng bên ngoài. Chúng là khát vọng được giàu sang, nổi tiếng và có ngoại hình quyến rũ. Chúng là những khát vọng mà kết quả mong muốn là công cụ cho những mục đích khác. Tiền mang loại quyền lực và sự sở hữu vật chất. Danh vọng mở ra nhiều cánh cửa và có thể dẫn ta đến một cơn mưa quà tặng. Một hình ảnh đẹp cho ta những lựa chọn như người tình quyến rủ, cơ hội tiếp thị và những chú ý không ngừng. Trái lại, ba khát vọng còn lại được gọi là những khát vọng bên trong, bởi vì chúng cho ta phần thưởng của riêng chúng ta và giúp ta thỏa mãn nhu cầu bẩm sinh là có được năng lực, tự chủ và sự kết nối. Ba khát vọng đó là, có được các mối quan hệ cá nhân thỏa mãn, đóng góp cho cộng đồng và trưởng thành như những cá nhân. Đương nhiên, cũng có khả năng một mối quan hệ cá nhân thoả mãn với một người có sức ảnh hưởng sẽ mở ra những cánh cửa và việc đóng góp cho cộng đồng sẽ mang lại sự tung hô, vậy nên những khát vọng bên trong cũng có thể có những lợi thế mang tính phương tiện. Con người cảm nhận được sự thỏa mãn cá nhân đáng kể nhờ ba kết quả bên trong, dù chúng có dẫn họ đến những kết cục khác hay không. Tất cả sáu khát vọng này đều là những khát vọng mà hầu hết chúng ta đang nắm giữ, thậm chí khát vọng bên ngoài như thành công về tài chính cũng quan trọng, ít nhất là ở một mức độ nào đó, để sống một cuộc đời viên mãn. Không thể chối cãi rằng việc muốn sở hữu một mảnh đất nhỏ để cư ngụ, tìm kiếm thức ăn, chăm sóc y tế và phải thú vui thẩm mỹ cho bản thân và cùng gia đình là hoàn toàn hợp lý. Nhưng những gì mà các nhà nghiên cứu quan tâm chủ yếu là những thứ xảy ra khi khát khao của con người trong một hay nhiều mục tiêu sống này mất cân bằng với những cái khác. Trong nghiên cứu, các cá nhân đánh giá tảm quan trọng của mỗi khát vọng sống trong số này đối với bản thân họ. Bằng một phương pháp thống kê phức tạp, Ryan đã chỉ rõ mức độ mà khao khát của các cá nhân dành cho một mục tiêu mất cân bằng với những mục tiêu khác. Chẳng hạn như, nếu Kevin Jacobs hoàn thành bảng hỏi trước khi tham gia quá trình trị liệu, thì chắc chắn khao khát thành công vẻ mặt vật chất của anh ta sẽ mất cân bằng với khát vọng đóng góp cho cộng đồng và các mối quan hệ cá nhân. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nếu bất kỳ khát vọng nào trong số ba khát vọng bên ngoài - tiền bạc, danh vọng hay sắc đẹp - quá cao so với ba khát vọng bên trong cá nhân đó cũng có khả năng biểu hiện sức khỏe tinh thần nghèo nàn hơn. Chẳng hạn, một nhà tâm lý học lâm sàng đã được đào tạo sẽ đánh giá rằng việc có một khát vọng mãnh liệt bất thường dành cho thành công về vật chất gắn liên với hội chứng tự yêu mình, lo âu, trầm cảm, và chức năng xã hội nghèo nàn hơn. Những khát vọng bên ngoài khác cũng gắn liên với những chỉ số chức năng tâm lý kém hơn. Ngược lại, những khát vọng mãnh liệt cho bất kỳ mục tiêu nội tại nào - các mối quan hệ ý nghĩa, sự phát triển Cá nhân và những đóng góp cộng đồng, điều liên kết một cách tích cực với hạnh phúc. Chẳng hạn, những người khao khát cháy bỏng được đóng góp cho cộng đồng sẽ có sức sống và lòng tự trọng cao hơn. Khi con người tổ chức hành vi của họ trên phương diện những đấu tranh nội tâm so với những đấu tranh bên ngoài, họ dường như hài lòng hơn, họ cảm thấy ổn hơn về con người họ và biểu hiện sức khỏe tâm lý rõ ràng hơn. giàu có và danh vọng tạo ra chính là con người sợ ho sẽ không bao giờ có thể đạt được chúng, và một số nhà tâm lý học đã đặt ra giả thuyết rằng những kỳ vọng tiêu cực này là thứ gây nên sự khổ sở. Nếu con người quá coi trong việc đạt được bất cứ mục tiêu nào và tin rằng họ sẽ không thể nào chạm đến mục tiêu đó, thì họ sẽ cảm thấy không hạnh phúc và có lẽ sẽ tuyệt vọng. Trong nghiên cứu về những khát vọng sống, Kasser và Ryan đã yêu cầu các đối tượng trả lời báo cáo niềm tin của họ về khả năng đạt được mỗi một mục tiêu trong số ba mục tiêu bên trong và ba mục tiêu bên ngoài là bao nhiêu. Hãy nhớ lại phát hiện đầu tiên đã chỉ ra rằng nếu con người quá tha thiết với những mục tiêu bên ngoài, họ sẽ có sức khỏe tinh thần yếu ớt. Phát hiện quan trọng thứ hai là ngay cá khi các đối tượng trả lời nghĩ rằng cơ hội đạt được những mục tiêu bên ngoài cao, thì họ vẫn cho thấy sức khỏe tinh thần yếu kém. Dù việc ấp ủ những khát vọng bên ngoài và tin rằng mình không thể đạt được chúng chắc chắn sẽ khiến con người mắc chứng khó tiêu, nhưng phát hiện ít hiển nhiên và nhiều sắc sảo hơn từ nghiên cứu này lại cho thấy rằng việc giữ chặt lấy những nguyện vọng bên ngoài và tuyệt đối tin rằng họ sẽ có thể đạt được chúng cũng gắn liền với sức khỏe tâm lý yếu hơn. Dự báo quan trọng cho hạnh phúc của một cá nhân liên quan nhiều tới kiểu khát vọng mà họ ôm ấp hơn là những mong đợi của họ về việc đạt được khát vọng ấy. Những nghiên cứu này đã mang lại một khía cạnh mới cho nghiên cứu về sự tự chủ cá nhân. Trong khi các nghiên cửu trước đó tập trung vào những vấn đề như chất lượng trải nghiệm và phong độ thể hiện của một người, thì những nghiên cứu này vẽ ra sự liên kết trực tiếp giữa các kiểu động lực và sức khỏe tinh thần cá nhân. Dường như những người khỏe mạnh nhất tập trung vào việc phát triển các mối quan hệ cá nhân khiến họ thoải mãn, trưởng thành như những cá nhân, và đóng góp cho cộng đồng của họ. Chắc chắn họ cũng mong mói thành công về mặt tài chính đủ để sống một cách thoải mái. Thế nhưng sử giâu có, danh vọng lản sắc đẹp không chiếm một phân quả lớn trong ý thức của những người này như cách mà chúng chi phối trải nghiệm của những cá nhân kém ổn định về mặt tâm lý hơn. Ấn dưới việc đặt nặng vào các mục tiêu bên ngoài chính là sự ảnh hưởng có ít ý nghĩa đối với bản ngã của một người. Những mục tiêu bên ngoài đó khiến ta chú ý đến những gì họ có hơn là con người thật sự của họ. Chúng tạo thành vẻ bề ngoài, một nhân cách bắt nguồn từ xã hội không có nền tảng vững chắc. Khi không có cảm giác vô cùng hài lòng, không đạt được sự thóa mãn những nhu cầu nội tại của bản thân, con người bắt đầu khao khát những mục tiêu nông cạn hơn. Những khát vọng bên ngoài quá mãnh liệt, do đó, có thể được hiểu như đang thể hiện những khía cạnh của bản ngã giả tạo. Chúng có sức mạnh bởi vì lòng tự trọng có điều kiện của con người phụ thuộc vào việc đạt được những mục tiêu. Khi con người phải không ngừng chịu đựng tình yêu và sự tôn trọng có điều kiện, đặc biệt khi họ còn trẻ, họ học cách tìm kiếm những tiêu chuẩn bên ngoài, coi đó là cơ sở để phán xét giá trị của họ - ban đầu là những thứ cha mẹ họ cho rằng cần thiết và sau đó đến những gì mà xã hội tuyệt đối và kiên quyết tán thành. Trong quá trình phát triển định hướng về những tiêu chuẩn bên ngoài đối Với việc phán xét giá trị của bản thân, con người trở nên đặc biệt dễ tổn thương trước những tác động của xã hội. Họ có nhiều khả năng chấp nhận các giá trị mà xã hội có vẻ ủng hộ hơn. Đáng chú ý nhất, họ chấp nhận những giá trị vốn có trong quảng cáo, những giá trị như tích lũy khối tài sản nhiều và xa hoa hơn, và những giá trị mà các mục tiêu chuẩn dễ dàng thấy rõ sau sự giàu có, danh vọng hay vẻ bề ngoài. Đương nhiên, những khát vọng bên ngoài hoàn toàn phù hợp với mô tả này. Kasser, Ryan và các cộng sự đã điều tra, nghiên cứu tiền đẻ phát triển của những kiểu khát vọng khác nhau với hy vọng làm sáng tỏ thêm mỗi quan hệ động lực giữa các khát vọng và sức khỏe tinh thần. Để làm được điều này, họ sử dụng dữ liệu thu thập từ các bà mẹ và những đứa con qua giai đoạn mười bốn tuổi. Đúng như suy đoán của họ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người con mười tám tuổi quá coi trọng những khát vọng bên ngoài như sự giàu sang đều có những bà mẹ thích kiếm soát (thay vì khuyến khích tự chủ) và lạnh lùng (thay vì biết dạy dỗ) khi con còn nhỏ. Ngược lại, những bà mẹ ấm áp, quan tâm và khuyến khích tự chủ sẽ có những đứa con trưởng thành và khao khát nhiều thành quả bên trong hơn. Thuật ngữ nhu cầu của con người thường được sử dung và nhìn chung bị đánh đồng với ý nghĩa ước muốn hay khao khát. Thứ mà một người muốn có hay được cho là thứ mà họ cản. Nhưng đó lại là một cách dùng không chính xác và sai lệch về khái niệm nhu cầu của con người. Thay vào đó, theo Abraham Maslow, chúng ta định nghĩa nhu cầu của con người là một điều kiện sinh vật - dù về mặt triết học hay tâm lý học - phải được thỏa mãn cho con người để duy trì sức khỏe và nếu không được thỏa mãn sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động khác thường của cơ thể. Để một xã hội vận hành hiệu quả, những thành viên cả nhân của nó phải phân nào đó làm theo những giá trị hay tập tục của xả hội. Nhưng việc nội hóa các giá trị và sẵn sàng sống theo chúng là một vấn đề nhay cảm dựa trên hai cơ sở. Thứ nhất, để có ích với tư cách cá nhân, giá trị của một người và động lực hành xử đi kèm phải được tích hợp, chúng phải trở thành một phản của bán ngã nhất quán. Nếu không, chúng sẽ thuân hóa bán ngã cho xã hội. Và thứ hai, nếu như các giá trị và tập tục mà xã hội đặt ra cho cá nhân - những giá trị như chủ nghĩa vật chất cực đoan - sai lệch với nhu cầu con người cơ bản của các cá nhân đó, quá trình nội hóa sẽ không như ý muốn. Con người có thể nội hóa các giá trị, nhưng họ sẽ phải trả một cái giá cực kỳ đắt nếu họ cứ tiếp tục nỗ lực để sống đúng với những giá trị bên ngoài mạnh mẽ khác thường đó. Việc bám lấy những giá trị bên ngoài vốn có bản chất dễ nhận thấy hơn những giá trị bên trong là minh chứng cho việc thiếu sự hợp nhất các giá trị này. Nếu việc coi trọng tiền bạc được hợp nhất vào nhận thức về bản ngã của con người, thì khát vọng đó sẽ cân bằng với những khát vọng khác - nó sẽ có giá trị vì lợi ích của nó khi cho phép họ sống một cuộc đời trọn vẹn và cân bằng, tạo ra những cơ hội có ý nghĩa để kết nối, đưa ra những trải nghiệm thẩm mỹ, giúp dỡ người khác và hỗ trợ những tổ chức công cộng. Nếu những khát vọng về tiền bạc của họ được hợp nhất tốt, họ se sản sàng đóng góp cho đài phát thanh công cộng hay hội hướng đạo sinh chẳng hạn, mà không cần được công nhận hay tán thưởng. Việc hợp nhất các giá trị bên ngoài - tức là sự cân bằng giữa chúng với các giá trị bên trong - chịu ảnh hưởng đáng kể của cách nuôi dạy con, như nghiên cứu của Kasser và Ryan đã chỉ ra. Những bậc cha mẹ biết dạy dỗ con cái và khuyến khích tự chủ có nhiều khả năng có được những đứa con hợp nhất được các giá trị bên ngoài hơn. Nhưng không phải toàn bộ trách nhiệm đều nằm ở các bậc phụ huynh. Xã hội, với áp lực cùng cực của việc nhấn mạnh vào chủ nghĩa vật chất, là một trở ngại kinh khủng cho việc thúc đấy sự cân bằng trong các giá trị của con cái chúng ta - và thật ra trong chính bản thân chúng ta nữa. Những câu chuyện làm giàu từ hai bàn tay trắng đầy rẫy trong lịch sử văn hóa của chúng ta và được thêu dệt qua vô vàn những quyển sách giáo khoa để đưa ra một quan điểm được cường điệu hóa rằng: "Tất cả chúng ta đều có thể tạo ra cho mình bất cứ điều gì chúng ta muốn". Chủ nghĩa cá nhân được xem là tự do theo đuổi mục đích riêng của ban; nghĩa là không có sự tác động từ bên ngoài (hiểu là: Không có chính phủ) nào can thiếp vào những nỗ lực đạt được điều bạn khao khát, miền là bạn thực hiện nó một cách hợp pháp. (Giá trị của chủ nghĩa cá nhân cũng đòi hỏi ít nhất ban phải tuân thủ đúng luật). Tương tự, sự tự chủ có thể được định nghĩa là tự nguyện (nghĩa là, tự do) theo đuổi những mục tiêu mà bạn lựa chọn. Cả hai khái niệm do đó đều có một mối quan hệ nào đó với sự tự do, và cả hai đều truyền đạt ý thức về chế độ tự quản. Trái lại, tự chủ chính là hành động một cách tự nguyên, với ý thức về sự lựa chọn, tính linh hoat và tự do cá nhân. Đó là cảm giác thật sự sẵn lòng để hành xử một cách có trách nhiệm, theo đúng sự quan tâm và giá trị của bạn. Đối lập với tự chủ là bị kiểm soát, nghĩa là bạn bị gây áp lực để hành xử, suy nghĩ hay cảm nhận theo một cách cụ thể nào đó. Sự kiểm soát thường được những người ở vị thế bề trên hoặc xã hội sử dụng, nhưng dĩ nhiên con người có thể tự kiểm soát bản thân để thỏa mãn những nội nhập. Tự gây sức ép cho chính mình, ép bản thân hành động, hoặc cảm thấy như thể bạn phải làm gì đó chính là hủy hoại sự tự chủ của chính bạn. Một doanh nhân khó tính và thích cạnh tranh, đấu tranh để có nhiều quyền lực và giàu sang, có thể là một người theo chủ nghĩa cá nhân nghiêm ngặt, nhưng anh ta không phải là một hình mẫu tự chủ. Chừng nào việc theo đuổi các mục đích của anh ta còn bị gây áp lực hay ép buộc, ngay từ bên trong, thì anh ta vẫn chỉ có tính cá nhân chủ nghĩa chứ không hể tự chủ. Tự biết mình bắt đầu với sự chú tâm thoải mái đến những quá trình bên trong của một người; bắt đầu với sự quan tâm chân thật đến bản thân. Những gì vẫn được coi là tự biết mình thường không hẳn là thế, mà thay vào đó, nó liên quan đến sự đầu tư vào hình ảnh của bản thân, người khác nhìn mình thế nào, theo một cách đặc biệt - như thân thiện, giàu có, thông minh, hay thế nào khác. Khi con người quan tậm đến bản ngã bên trong theo một cách chân thành, họ sẽ có thể từ bỏ sự ràng buộc với cái tôi, và khao khát được hiểu những gì họ gặp phải khi khám phá nội tâm. Việc hiểu rằng chủ nghĩa cá nhân thường cùng tổn tại với sự kiểm soát thay vì sự tự chủ cho phép chúng ta hiểu được hiện tượng dường như nghịch lý này. Con người, khi để tâm đến những niềm say mê cá nhân của riêng họ, thường thấy áp lực phải củng cố ý thức về bản ngã của họ thông qua việc đạt được những khát vọng bên ngoài. Họ tuân thủ và phục tùng khi nỗ lực đạt được những mục tiêu đó. Đương nhiên, chẳng có gì sai hay yếu kém khi ước mơ - lựa chọn theo một kiểu tự do và tự chủ - được là một phần trong nhóm hay được giống các thành viên khác trong nhóm. Nó là một phần trong bản chất con người. Khi được hợp nhất tốt với tư cách những cá nhân, con người sẽ đủ vững vàng để kiên trì là chính mình trong xã hội không ngừng dịch chuyển, và đồng thời, bởi vì họ thu hút sức mạnh từ nhau, nên họ cũng vững vàng để nuôi dưỡng sự phụ thuộc vào những người khác. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Bản ngã trong thế giới xã hội
- 03 May, 2024
Có bao giờ bạn tự hỏi : "Bản thân đã che giấu cảm xúc và niềm tin của mình nhiều như thế nào?". Bạn cho rằng, nếu thể hiện chúng ra, bạn sẽ cảm thấy bản thân thật ích kỷ và tội lỗi, và người ta sẽ không thích mình. Bạn không thể là con người thật sự của mình vì sợ hãi hay xấu hổ. Những cá nhân này có những sự nội nhập về việc họ nên trở thành người như thế nào và những sự nội nhập này neo chặt trong tâm trí họ. Một số cá nhân thậm chí còn nói rằng họ không biết bản thân mình là ai nếu tách rời với những gì họ nên, buộc và phải trở thành. Bị những sự nội nhập này chế ngự, người trẻ khoác lên mình vỏ bọc bên ngoài - một dạng của bản ngã giả tạo - vì họ không kết nối được với bản ngã thật sự của mình. Một trong những rủi ro gắn liền với việc là thành viên trong một đơn vị - một nhóm gia đình chẳng hạn, hay một xã hội - chính là con người có thể bị ép buộc phải từ bỏ hay che giấu con người thật của mình. Họ có thể cảm thấy buộc phải từ bỏ quyền tự chủ và bản ngã thật của họ để phù hợp với tập thể đó hơn. Sự hợp nhất, đại diện cho sự phát triển tối ưu và nằm trong mối quan tâm cao nhất về trẻ em và các tác nhân xã hội hóa của chúng, đòi hỏi phải khuyến khích cả sự tự chủ lẫn sự kết nối. Nhưng các tác nhân xã hội hóa lại quá thường xuyên đi ngược lại bản thân đứa trẻ bằng cách nỗ lực kiểm soát với sự yêu thương có điều kiện, trong khi khuyến khích tự chủ mới là những gì ta cần. Nếu sự tự chủ chống lại sự kết nối thì cái giá phải trả có thể là bản ngã của một người. Hầu hết các nhà tâm lý học và xã hội học hiện đại đều cho rằng bản ngã được lập trình xã hội, nghĩa là họ cho rằng những quan niệm của con người về bản thân họ được xây dựng dựa trên định nghĩa của xã hội. Theo góc nhìn đó, khi người khác khen bạn thân thiện, bạn liền nhìn bản thân mình như một người thân thiện. Khi người khác băn khoăn không biết bạn có thành công hay không, bạn liền nảy sinh ý nghĩ nghi ngờ về khả năng của chính mình. Khi những người khác cắt ngang các hoạt động của bạn để cho bạn thấy cách làm tốt hơn, bạn chấp nhận niềm tin rằng bạn không đủ khả năng. Bất kể thế giới xã hội có lập trình chúng ta thế nào đi nữa, thì đó cũng chính là những gì tạo nên bản ngã của chúng ta. Việc cho rằng bản ngã được xã hội định nghĩa chính là không có sự phân biệt giữa cái tôi đích thực và cái tôi giả tạo. Quan niệm ấy không nhận ra rằng mỗi người đều có một bản ngã bên trong (dù nó chỉ mới được sinh ra), cũng như các năng lực để tiếp tục tinh chỉnh và trau chuốt bản ngã đó. Do đó, bản ngã có thể phát triển đúng với bản chất của nó, hoặc nó có thể được xã hội lập trình. Thế nhưng bản ngã sinh ra từ hai quá trình này sẽ rất khác biệt. Tuy nhiên, bản ngã bên trong không phải là một thực thể được lập trình về mặt di truyền sẽ đơn giản bộc lộ theo thời gian. Thay vào đó, nó là một tập hợp các tiềm năng mối quan tâm và khả năng tương tác với thế giới, mỗi bên đều ảnh hưởng đến bên kia. Tại một thời điểm cụ thể, bản ngã là kết quả phát triển của mối quan hệ biện chứng. Khi quá trình này vận hành một cách hiệu quả, bản ngã đích thực sẽ hình thành; khi quá trình thất bại, bản ngã không đích thực sẽ được tạo ra. Như vậy, sự phát triển của bản ngã chịu ảnh hưởng rất nhiều của thế giới xã hội, nhưng bản ngã không phải do thế giới đó dựng lên. Thay vì vậy, các cá nhân đóng một vai trò chủ động trong sự phát triển của bản ngã, và bản ngã đích thực phát triển khi thế giới xã hội hỗ trợ cho hoạt động của cá nhân. Bản ngã đích thực bắt đầu từ bản ngã bên trong - từ những mối quan tâm và tiềm năng vốn có, cùng khuynh hướng sinh vật hợp nhất những khía cạnh mới trong trải nghiệm của chúng ta. Khi bản ngã đích thực được bồi đắp và hoàn thiện, người ta sẽ phát triển một ý thức to lớn hơn về trách nhiệm. Nhưng quá trình hợp nhất và phát triển của bản ngã địch thực đòi hỏi phải thoả mãn các nhu cầu của con người. Khi thế giới xã hội mà con người phát triển trong đó khuyến khích tự chủ - khi nó đặt ra những thử thách tối ưu cùng cơ hội lựa chọn và tự bắt đầu - thì bản ngã đích thực sẽ phát triển sum suê. Khi thế giới xã hội chấp nhận con người vì chính bản chất của họ, trao đi yêu thương khi họ khám phá môi trường bên trong và bên ngoài, thì bản ngã đích thực sẽ phát triển một cách tối ưu. Nhưng khi những nhu cầu này không được thỏa mãn, quá trình ấy sẽ bị cản trở. Sự phát triển của bản ngã đích thực đòi hỏi phải khuyến khích tự chủ - nó đòi hỏi sự chấp nhận và tình yêu không điều kiện. Một trong những cách tiếp cận về kỷ luật thường thấy nhất trong xã hội hiện đại liên quan đến việc tạo ra điều khoản về tình yêu, sự chấp nhận và sự kính trọng - phụ thuộc vào hành xử của con người theo những cung cách nhất định. Cách tiếp cận triệt-tiêu-tình-yêu này chính là cơ sở cho một trong những khía cạnh bi kịch của cuộc sống ấy là trong nhiều hoàn cảnh, người ở địa vị bề trên khiến cho sự tự chủ và sự kết nối quay lưng lai với nhau. Điều này không có nghĩa là các nhu cầu đối kháng nhau về bản chất, mà chỉ có nghĩa là thế giới xã hội có thể lợi dụng tính chất dễ bị tổn thương của con người trước việc bị kiểm soát - trước việc bị cướp mất quyền tự chủ - và trước nhu cầu kết nối với người khác. Việc khiến cho yêu thương trở thành có điều kiện là một trong những cách mang tính kiểm soát mà chúng ta có thể dùng với trẻ em (cũng như người cùng địa vị), bởi vì nó buộc họ từ bỏ quyền tự chủ để giữ lại tình yêu hoặc phải "sống như một hòn đảo cô độc". Khi buộc phải mang lấy trách nhiệm làm cho con cái cư xử sao cho đúng đắn, cha mẹ sử dụng sự triệt tiêu tình yêu thương, và trong quá trình này nó không chỉ cản trở sự nội hóa những điều lệ mà quan trọng hơn, nó còn gây trở ngại cho sự phát triển của bản ngã đích thực. Việc trẻ em chấp nhận các giá trị, quy trình và quan niệm về bản thân chúng mà thế giới xã hội trao cho là chuyện hiển nhiên, nhưng khi những gì thế giới trao cho lại đi kèm với sự kiểm soát - khi việc nhận được yêu thương lại phụ thuộc vào việc chấp nhận các giá trị cũng như điều lệ của thế giới - trong tình huống lạc quan nhất, trẻ em sẽ chỉ nội nhập những thứ đó, nuốt tron thay vì hợp nhất chúng vào việc phát triển bản ngã. Chất liệu được nội nhập không phải là một phần của bản ngã đích thực hay đã được hợp nhất, mà thay vào đó là sự chịu dựng như những đòi hỏi cứng nhắc, những quan điểm và sự đánh giá vốn là cơ sở cho bản ngã giá tạo. Trong quyển The Drama of the Gifted Child (tạm dịch: Sự kịch tính của đứa con thiên tài), Alice Miller đã giải thích rằng bản ngả giá tạo phát triển khi trẻ em chấp nhận căn tính mà những người chăm sóc thích kiểm soát muốn chúng có. Trong khi nỗ lực làm cha mẹ hài lòng và nhận được tình yêu có điều kiện, trẻ em dẫn dẫn trực cảm rằng đó là những gì bản thân chúng muốn - những gì mà bọn trẻ hy vọng sẽ mang lại cho chúng tình yêu và tránh được sự quở trách của những bậc phụ huynh thích kiểm soát. Những thứ được nội nhập có thể là nhân tố thúc đấy mạnh mẽ, không ngừng thúc đẩy con người suy nghỉ, cảm nhận hay hành xử theo những cách cụ thể. Thế nhưng chúng cũng có vô vàn tác dụng phụ khác nhau minh chứng cho sự không thích nghi. Nội nhập có liên quan mật thiết với sự lo âu - con người sống trong nỗi sợ thất bại và sợ mất đi sự quý mến. Nó cũng đi kèm với một sự mâu thuẫn nội tâm dữ dội giữa những gì đã được nội hóa - mà chúng ta có thể bằng cách ẩn dụ coi đó là người kiểm soát, người luôn đòi hỏi, phỉnh phờ hay đánh giá - và cũng chính con người đó đang bị điều khiển và chỉ trích. Nội nhập là quá trình tạo điều kiện để bản ngã giả tạo xuất hiện - để một tập hợp các luật lệ và căn tính cứng nhắc xuất hiện - và là quá trình mà qua đó người ta có thể đánh mất sự kết nối với con người thật của họ. Việc sử dụng tình yêu và sự coi trọng có điều kiện như một phương tiện kiểm soát không chỉ thúc đẩy nội nhập mà nó còn gây ra hậu quá thậm chí đáng tiếc hơn khi nó dạy người ta coi trọng bản thân một cách có điều kiện. Cũng như họ từng phải đáp ứng với những yêu cầu từ bên ngoài để có được tình yêu và sự coi trọng của người khác thì lúc này họ cũng phải sống theo đúng những gì họ đã nội nhập để có được tình yêu và sự coi trọng từ chính bản thân. Sự ràng buộc với cái tôi là thuật ngữ mà các nhà tâm lý học dùng để chỉ quá trình cảm giác về giá trị của con người phụ thuộc vào những kết quả cụ thể. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một cách nhất quán rằng sự ràng buộc với cái tôi hủy hoại đông lực nội tại và khiến các đối tượng kể về áp lực, căng thẳng và lo lắng về cách thể hiện nhiều hơn. Sự ràng buộc với cái tôi phát triến khi người ta được người khác coi trọng một cách có điều kiện, vậy nên nó liên quan chặt chẽ với việc nội nhập các giá trị và điều lệ. Khi lòng tự trọng xoay quanh kết quả thực hiện, con người sẽ đấu tranh để duy trì vẻ bề ngoài. Họ tự gây áp lực cho bản thân mình để xuất hiện theo một cách nào đó trước người khác nhằm có thể cảm thấy ổn về bản thân. Dĩ nhiên, điều này làm giảm đi niềm say mê và nhiệt huyết. Thực tế, nó ủng hộ bản ngã giả tạo và hủy hoại sự phát triển của bản ngã đích thực. Khi bị ràng buộc với cái tôi, con người tập trung vào việc họ trông như thế nào trong mắt người khác nên họ cứ mãi phán xét cách bản thân thể hiện. Tóm lại, sự ràng buộc với cái tôi được hình thành trên một nhận thức hời hợt về bản ngã, và nó chống lại sự tự chủ. Để trở nên tự chủ - độc lập hơn, con người cần phải tách ra khỏi sự ràng buộc với cái tôi, họ phải dần dần từ bỏ chúng. Charlotte Selver' đã phát triển bài tập thực hành về nhận thức cảm giác. Nó là một cách tiếp cận cho phép các chức năng bên trong của một người, giúp người đó kết nối với con người thật sự của họ. Bà có rất nhiều học trò lỗi lạc - như các bác sĩ tâm thân học Erich Fromm, Fritz Perls và Clara Thompson - những người đã làm việc với bà để phát triển một nhận thức sâu hơn về sự bình yên bên trong và độ nhạy cảm cao hơn về những điều xung quanh họ. Charlotte nói thế này: "Nếu bạn dám béo lên, thì bạn có thể gầy đi", cứ cho phép bản thân thất bại và bạn sẽ có thể thành công hơn. Nhận ra cách mà những sự nội nhập và sự ràng buộc với cái tôi thúc đẩy thông qua quá trình tự đánh giá có điều kiện về bản thân đã chỉ ra một sự thật vô cùng quan trọng rằng thật ra có hai kiểu tự trọng. Chúng là tự trọng đích thực và tự trọng có điều kiện. Lòng tự trọng đích thực đại diện cho cảm giác ổn định và lành mạnh về bản thân, được xây dựng trên nền tảng vững chắc của việc tin vào giá trị của một người với tư cách con người. Nó đi kèm với một cái tôi đích thực phát triển mạnh, mà ở đó động lực nội tại được duy trì, những giới hạn và điều lệ từ bên ngoài được hợp nhất tốt, và quá trình cần thiết cho việc chỉnh đốn cảm xúc của một người được phát triển. Lòng tự trọng đích thực đó đi kèm với tự do và trách nhiệm. Tuy nhiên, tự trọng đích thực không có nghĩa là cho rằng bạn chẳng làm gì sai. Con người tự trọng đích thực ý thức được các hành vi đúng hay sai, bởi vì lòng tự trọng đích thực đi kèm với những giá trị và điều lệ đã hợp nhất. Những cá nhân như vậy đánh giá hành vi của họ, nhưng cám xúc về giá trị của họ với tư cách con người không trôi nỗi theo những đánh giá đó, còn có một kiểu tự trọng khác ít ổn định, ít chắc chắn hơn, dựa trên ý nghĩa nền tảng về giá trị. Nó hiện diện ở một vài hoàn cảnh nhưng biến mất ở những hoàn cảnh khác, khiến con người bị suy kiệt và tự giảm giá trị bản thân. Đây là lòng tự trọng có điều kiện, khi con người bị gây sức ép và kiểm soát để đạt được những kết quả đặc biệt, lòng tự trọng của họ thường phụ thuộc vào cách những thứ đó diễn. Người tự trọng đích thực có thể tôn trọng và chấp nhận điểm yếu của người khác hơn là phán xét và phản đối chúng. Mỗi quan hệ quan trọng nhất trong cuộc đời của nhiều người là một mới quan hệ ngang hàng đặc biệt, thường với một người bạn đời nhưng cũng có khi với một người bạn thân nhất. Đó là người để bạn hướng về, là người để bạn dựa vào và là người hỗ trợ. Họ là người sẽ lắng nghe bạn, là người hiểu bạn khi không ai khác hiểu bạn. Nhưng đó cũng là người bạn phải cho đi, là người bạn phải chu toàn, là người bạn phải lắng nghe và phải thấu hiểu. Mối quan hệ quan trong nhất của cuộc đời nhiều người chính là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Nó là mối quan hệ cho phép người ta thỏa mãn nhu cầu kết nối bằng cách phụ thuộc vào những người cũng phụ thuộc vào họ. Đặc tính của những mối quan hệ trưởng thành và mãn nguyện nhất chính là bản ngã đích thực của một người gắn kết được với bản ngã đích thực của một người khác. Mỗi người đều phụ thuộc vào người còn lại, nhưng mỗi người đều duy trì quyền tự chủ, sự hợp nhất, hay ý thức về bản ngã của mình. Chừng nào mỗi người còn ở trong mối quan hệ một cách tự chủ, với ý thức đúng đắn về sự lựa chọn, thì mối quan hệ đó còn lành mạnh, mỗi người sẽ có thể hồi đáp đối phương bằng bản ngã đích thực của mình, có thể ủng hộ và khí chất của người kia. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng quyền tự chủ của mỗi người là thứ cần thiết cho hạnh phúc lứa đôi. Những người tự chủ trong việc gắn kết với bạn đời của họ cho thấy mức độ mãn nguyện cao nhất trong mối quan hệ. Tuy nhiên, nhiều người tham gia cuộc nghiên cứu lại không hề tự chủ, mà thay vào đó là cảm thấy hoàn toàn bị kiểm soát. Những người này không cảm thấy tự do trong mối quan hệ ấy, họ gắn kết với bạn đời của mình vì nghĩa vụ. Trong những mối quan hệ kiểu này, bản ngã đích thực của hai người không gắn kết được với nhau. Những mỗi quan hệ trưởng thành có đặc trưng là sự tương tác cởi mở giữa hai cá nhân, không bị cản trở bởi sự ràng buộc với cái tôi, những đánh giá nội nhập hay sự tự phản kháng. Trong những mỗi quan hệ thân thiết, trưởng thành, mỗi bên đều tự chủ và mỗi bên đều ủng hộ quyền tự chủ của bên còn lại. Trong những mỗi quan hệ như vậy, mỗi bên đều có thể cho đi mà không mong nhận lại và không gán ghép nghĩa vụ gì cho bên kia. Sự cho đi xuất phát từ bản ngã đích thực, và do đó con người trải nghiệm việc muốn cho đi. Khi hai người đang gắn kết nhau một cách trưởng thành, mỗi người có thể hỏi người kia xem họ muốn hay cần những gì, với niềm tin tuyệt đối rằng đối phương sẽ nói "không" nếu không muốn cho đi. Trong những mối quan hệ trưởng thành này, con người tự do cho đi và tự đo từ chối cho đi, có một sự cân bằng giữa việc có được thứ mà người ta cân cho bản thân và cho người khác. Việc cho đi không phải trả giá bằng bản ngã của một người, thay vào đó nó phải được bản ngã tán thành hoàn toàn. Trong các mối quan hệ như thế, mỗi bên đều có thể biểu hiện cảm xúc của mình một cách tự do và có thể lắng nghe cảm xúc của người kia mà không cần đề phòng. Việc nhận ra cảm xúc rất quan trọng cho sự phát triển và hoạt động của bản ngã đích thực, và việc giao tiếp với chúng rất quan trọng cho mức độ thân thiết trong mỗi quan hệ. Nhưng khi con người "nắm giữ" được chúng, khi con người hiểu rằng những cảm xúc đó được tạo nên bới sự liên kết giữa các sự kiện với mong muốn, nhu cầu và kỳ vọng của riêng họ, họ sẽ có thể biểu hiện cảm xúc của mình theo hướng mang tính xây dựng chứ không bị cuốn vào sự công kích. Nó cũng cho phép con người nghĩ về cách có được những gì họ muốn hay cần mà không nhất thiết phải đòi hỏi đối phương thay đổi. Trong quyển sách cực kỳ nổi tiếng The Art of Loving (tạm dịch: Nghệ thuật yêu), Erich eFromm đã chỉ ra rằng yêu một người là công việc rất khó khăn. Điều thật sư khó khăn trong tình yêu chính là phải giải phóng bản thân bạn khỏi những nội nhập, sự cứng nhắc, đổ lỗi và tự xúc phạm bản thân, những thứ vốn ngăn cản khả năng kết nối một cách chân thành bằng bản ngã đích thực của ban. Điều gây khó khăn chính là phải đủ tự do về mặt tâm lý để tạo ra sự gắn kết chân thật. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Khi xã hội ra hiệu
- 24 Apr, 2024
Cách tiếp cận thứ nhất tin rằng con người thấm nhuần các khuynh hướng và năng lượng để trưởng thành, phát triển phù hợp hơn với nhu cầu tâm lý của họ. Cách tiếp cận thứ hai xem nội hóa là một quá trình tiên phong mà trong đó một đứa trẻ đang phát triển biến sự thúc đẩy ngoài tạo thành sự thúc đẩy nội tại. Có thể thoạt đầu điều này chẳng là gì đối với bạn ngoài một vấn đề về ngữ nghĩa, như một kiểu biệt ngữ xuôi tai vậy. Nhưng thực ra không chỉ có thế, từ quan điểm tâm lý học nó có nhiều ngữ nghĩa hơn thế bởi vì nó nói lên rất nhiều điều về bản chất sự phát triển của con người, và từ quan điểm thực hành, nó cũng có nhiều ý nghĩa hơn thế bởi vì nó dẫn đến những cách chuyển dịch rất khác nhau để thúc đẩy trách nhiệm của con người, sinh viên, nhân viên, bệnh nhân và công dân. Nội hóa một điều lệ và giá trị ẩn bên dưới nó là minh chứng điển hình về thiên hướng chung của con người khi hợp nhất các khía cạnh trong thế giới của họ thành mục sự tượng trưng ngày càng mở rộng và thống nhất về việc họ là ai, nó là một ví dụ về điều mà chúng ta gọi là sự hợp nhất của sinh vật. Trong ví dụ "đi đổ rác", giá trị ẩn bên dưới về việc chia sẻ trách nhiệm để làm cho cuộc sống gia đình vận hành trôi chảy, và sự hợp nhất là quá trình mà qua đó, giá trị này trở thành một phần của bản ngã đang phát triển của trẻ em. Nhưng quan trọng là ta nhận ra rằng có hai kiểu nội hoá hoàn toàn khác nhau, vậy nên đơn thuần nội hoá điều lệ (về hành vi) không đảm bảo được việc tự chỉnh đốn một cách xác thực và tự chủ. Hai dạng nội hoá là tiếp nhận hay nội nhập mà Fritz Perls ví như là nuốt trọng một luật lệ hơn là lĩnh hội nữa, và sự hợp nhất liên quan đến "lĩnh hội" và là hình thức nội hoá tối ưu. Giữ một nguyên tắc cứng nhắc đã luôn đối xử thô bạo với bạn, những tuyên bố, đòi hỏi, cách xử lý, vận động phù hợp với luật lệ cứng nhắc đó, có nghĩa là lúc này chỉ được nội nhập (tiếp nhận), nên nó không tạo nên một hành động thực sự chủ động. Hoạt động tự chủ đòi hỏi rằng một điều lệ hay quy tắc được nội hóa phải được chấp nhận là của bản thân bạn, điều lệ đó phải trở thành một phần trong bạn. Nó phải được hợp nhất với bản ngã của bạn. Thông qua quá trình hợp nhất, có người mới sẵn sàng đảm đương trách nhiệm trong hoạt động quan trọng nhưng không thú vị, các hoạt động không được thúc đẩy từ bên trong. Nhu cầu tự chủ của con người, nhu cầu trở thành một tác nhân chịu trách nhiệm trong việc quản lý bản thân họ, cung cấp năng lượng cho quá trình hợp nhất (hơn là chỉ nội nhập) một điều lệ. Do đó, dù nhu cầu có được sự thân thuộc và năng lực có thể thúc đẩy nội nhập, nhưng chính nhu cầu có được sự tự chủ mới đấu tranh trong quá trình hợp nhất một giá trị hay quá trình tuân thủ điều lệ vào bản ngã của con người. Con người thường tiếp thu những giá trị và luật lệ của các nhóm mà họ thuộc về, rồi hành động theo đó. Khi quá trình này diễn ra không hoàn chỉnh, nó dẫn đến những sự nội nhập, tức là những sự nổi hóa dưới dạng "nên" và "phải". Những sự nội nhập là giọng nói trong đầu mỗi người, có thể nói rằng nó đến từ bên ngoài và phát ra một lần, đôi lúc giống như những trung sĩ kỷ luật đầy ác ý và đôi lúc giống như những bà dì đầy yêu thương và tốt bụng (nhưng dù sao cũng có tính chất xâm phạm). Khi những sự nội hóa trở thành hợp nhất, khi chúng trở thành những khía cạnh thật sự trong bản chất của con người, chúng sẽ cho phép nhiều hành động và tương tác có tính xác thực hơn. Chúng ta vẫn thường xuyên nhìn bọn trẻ và thấy chúng đang vâng lời làm bài tập ở trường, việc vặt ở nhà hay bất cứ việc gì khác đến thế nào. Chúng ta có thể tự nhủ rằng: "À, chúng đang rất có động lực" và chúng ta nghĩ mọi chuyện đều ổn. Thế nhưng có lẽ chúng ta nên nhìn ở một góc độ khác và tự hỏi mình xem liệu chúng ta có đang thật sự tự nguyện làm việc đó hay không, liệu chúng ta có đang làm điều đó khi đã ý thức được về sự chấp thuận cách nhưng không. Nếu đúng là vậy thì có thể mọi thứ đều ổn. Nhưng thay vì nội nhập, Chúng có thể làm việc chăm chỉ hơn bởi vì nghĩ rằng mình nên làm và cho là mình sẽ được công nhận khi làm thế. Nếu vậy, những đứa trẻ này có thể đang bị tổn thương sâu sắc bên trong. Áp lực từ bên trong về việc phải thể hiện, ban đầu thì trông có vẻ rất hay, nhưng có thể tạo ra một cái giá đắt. Việc những học sinh vâng lời đòi hỏi sự chú ý có thể coi là bi kịch, bởi vì những cảm giác mà chúng có thể đăng chôn sâu trong mình, chẳng hạn cảm giác không xứng đáng, lại rất đáng được quan tâm. Những cảm giác này có thể dễ dàng sinh ra từ việc nội hóa một phần, từng sự nội nhập những luật lệ về sự đánh giá, họ thường cảm thấy mình không thể sống đúng với những điều đó cho dù cố gắng thế nào đi nữa. Hãy nghĩ đến những cô bé vị thành niên vì không thể nội hoá giá trị của nền giáo dục chính quy và tầm quan trọng của việc được một phương tiện hỗ trợ bản thân nên đã mang thai chỉ vì muốn có thứ gì đó để quan tâm. Khao khát trở thành mẹ của các em thật tuyệt vời, những việc các em trở thành mẹ trước khi có thể tự lo cho bản thân và con cái mình thì không. Sống đúng với bản thân thường bị đánh đồng với tính vị kỷ khi chỉ làm những việc của riêng mình, chân thật thường bị hiểu sai thành sự bào chữa cho thói vô trách nhiệm và bị công kích bởi những người hiểu nó theo cách đó. Sự ích kỷ, vị kỷ khi chỉ làm những việc của riêng mình đúng thật là vô trách nhiệm và rõ ràng có thể mang lại những hậu quả tiêu cực. Nhưng những hành vi đó không chân thật, chúng không thể hiện sự tự chủ của con người, cũng không phải là minh chứng cho việc được là chính mình. bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể đẩy cha mẹ chúng đến giới hạn, đặc biệt là sức mạnh tinh thần của họ đang ở mức thấp. Khi mệt mỏi, căng thẳng vì công việc, hay bị đè nặng bởi những công việc chưa hoàn thành, họ rất dễ thành ra buông thả, có thể đòi hỏi, khắc khe và ngược đãi nếu: con, hay học sinh, nhưng viên, không hành động đúng ý họ. Tất cả mọi người đều có thể bị tổn thương vì điều này, nhưng quan trọng là người ta không tự lừa dối bản thân, nghĩ rằng họ đang đặt ra những giới hạn trong đó họ thật ra đang nổi nóng. Con người được quyền căng thẳng và mâu thuẫn, nhưng nếu họ nhận ra bản chất của sự bực dọc này, nếu họ thu nhận chúng, thì con cái (học sinh hoặc nhân viên) của họ sẽ ít có khả năng phải trả giá cho những sự bực dọc ấy. Khi nhận ra những mâu thuẫn và áp lực bên trong của mình, con người ở vị thế bề trên sẽ có thể tạo điều kiện cho sự dàn xếp hiệu quả giữa các cá nhân họ giảng dạy, chăm sóc, hãy quản lý, và cho xã hội đang ra tín hiệu với họ. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Sức mạnh bên trong của sự phát triển
- 18 Apr, 2024
Tâm lý học có lịch sử hơi giống với một bệnh nhân mắc chứng đa nhân cách. Nó có hai căn tính, khác nhau hoàn toàn, mỗi căn tính có phạm vi nghiên cứu và tầm ảnh hưởng riêng. Cái thứ nhất nổi bật như sự nghiên cứu về những quá trình chuyển ra bên trong, thường khó quan sát trực tiếp. Cái còn lại chỉ có mục đích tập trung và những hành vi khác biệt. Cái thứ nhất, truyền thống phân tâm học khởi đầu với sự nghiệp mang tính cách mạng của Sigmund Freud, được xây dựng dựa trên niềm tin rằng lý do cho những hành động cảm nhận của con người nằm sâu trong bản thân họ. Do đó, chỉ có thể thúc đẩy sự thay đổi khi con người thăm dò chiều sâu tinh thần của họ và đưa những động lực bên trong thường không ý thức được vào trong nhận thức. Cái thứ hai, truyền thống thực nghiệm, khởi đầu là chủ nghĩa hành vi, cho rằng nguyên nhân của hành vi con người là những tác nhân cũng cố mà họ nhận được, vì thế nên cuộc đời của một người có thể bị biến đổi vô cùng mạnh mẽ nhờ sự chỉnh đốn nghiêm ngặt trong việc quản lý các nhân tố. Qua nhiều thập niên, truyền thống thực nghiệm cũng đã tiến hóa. Nhiều nhà lý thuyết giờ đây tập trung vào suy nghĩ của cá nhân hơn chỉ chú trọng đến các hành vi có thể quan sát được và tác nhân cũng cố của môi trường. Các hành vi vì vậy được giải thích trên khía cạnh suy nghĩ của con người về tác nhân cũng cố, những kỳ vọng và cách diễn giải của họ, hơn là chỉ những mô tả khách quan về bản thân các tác nhân cũng cố. Do đó, nhiều nhà tâm lý học thực nghiệm hiện đại được gọi là nhà lý thuyết nhận thức, đã khoáy động phía bên trong con người để tìm ra các nguyên nhân của hành vi, nhưng phần lớn họ chỉ dừng ở mức độ suy nghĩ của con người thay vì đi sâu hơn vào động lực. Hai căn tính khác biệt một cách hấp dẫn của tâm lý học có hai hướng tiếp cận riêng biệt để khám phá sự thật trong lĩnh vực tâm lý. Cách tiếp cận tâm động học (phychodynamic) đặt cơ sở lý thuyết trên những kinh nghiệm lâm sàng, trong khi cách tiếp cận thực nghiệm sử dụng những phân tích thống kê dữ liệu thu được từ các thí nghiệm khoa học. Đương nhiên, mỗi truyền thống đều nhận thức rõ về truyền thống kìa, nhưng thái độ của họ đối với nhau lại dao động từ sự thờ ờ ôn hòa đến khinh thường mãnh liệt. Hầu như không có nhà tâm lý học nào bao quát được hết những đóng góp của môi trường tiếp cận, để hướng đến việc thực hiện một nghiên cứu khoa học về động lực tâm lý, Nhưng khái niệm động lực nội tại có vẻ như không thể truyền đạt bằng các ý niệm cơ học. Động lực nội tại chỉ là một khía cạnh của tập hợp các hiện tượng rộng lớn mà con người thật sự muốn khám phá, và những hiện tượng này chắc chắn sẽ cần một điểm khởi đầu nhân văn hơn. Những gì cần thiết là một chủ nghĩa nhân văn thực nghiệm. Một góc nhìn rất khác biệt, nhưng theo ý nghĩa chức năng lại khá tương đồng đã được nhà xã hội học Talcott Parsons trình bày. Ông miêu tả sự ra đời của mỗi đứa trẻ là "cuộc xâm lược của một kẻ mang dã". Ông đồng ý là con người đang sống nhưng không phải theo một nghĩa có tính xây dựng, họ tuy sống nhưng lại là kẻ mang dã cần được thuần hóa. Quan điểm "trẻ sơ sinh là người mang rợ" và tư tưởng quan điểm "con người là cỗ máy thụ động" ở chỗ cả hai đều cho rằng sự phát triển sinh ra từ việc kiểm soát hành vi của trẻ em. Cả hai đều quả quyết rằng xã hội phải định hình con người, cả hai đều đề xuất rằng những tác nhân xã hội hóa cần phải được tạo ra bản ngã cho một đứa trẻ. Nếu con người không phải là những cỗ máy chờ được lập trình, hay những kẻ mang dã chờ được thuần hóa, vậy thì họ là gì? Họ là những sinh vật khám phá, phát triển, đương đầu với thách thức theo bản năng, không phải vì họ được lập trình để làm vậy, không phải vì họ bị ép buộc phải là vậy, mà vì điều đó nằm trong bản chất của họ. Sự phát triển khi nhìn từ quan điểm này, như Piaget và một vài nhà tâm lý học tiền phòng khác (Heinz Werner) đã làm thực sự là một vấn đề khác biệt. Nó trở thành vấn đề mang tính xây dựng hơn, con người hơn. Sự phát triển không phải là thứ gì đó mà thế giới xã hội cần thực hiện cho một đứa trẻ, nhưng hơn thế, nó là thứ mà đứa trẻ chủ động làm, với sự hỗ trợ và nuôi dưỡng của thế giới xã hội. Bên trong con người có xu hướng căn bản hướng đến sự cố kết và toàn vẹn hơn trong tổ chức thế giới nội tâm của họ. Nó có nghĩa là bản chất sự phát triển của con người vốn có xu hướng vận động hướng tới sự nhất quán và hài hòa to lớn hơn ở bên trong. Khẳng định sự hợp nhất là đặc điểm trung tâm của phát triển có nhiều phân nhánh khác nhau. Nó bao gồm ý tưởng rằng con người vốn dĩ chủ động và có khuynh hướng lợi dụng môi trường của họ để gây tác động, đồng thời lưu trong quá trình học hỏi và trưởng thành. Đó đơn giản là một cách khác để tuyên bố rằng con người được thúc đẩy từ bên trong, nhưng trong nguyên tắc hợp nhất sinh vật còn có một ý tưởng trong bản thân sự sống, đó là khuynh hướng tiến tới một hoàn cảnh phức tạp hơn nhưng có tổ chức. Sự phát triển của con người là một quá trình mà trong đó các sinh vật liên tục xây dựng và hoàn thiện cảm thức bên trong về bản thân mình và về thế giới của mình, để phục vụ cho sự cố kết to lớn hơn. Sự thôi thúc phát triển một cảm thức học nhất về cái tôi, do đó, là một đặc tính trung tâm về việc chúng ta là ai với tư cách là những cá nhân, và Lan hoạt động, cả thể chất lẫn tinh thần, cần thiết cho một quỹ đạo phát triển bản năng này được thúc đẩy từ bên trong. Tại sao quá nhiều trẻ em trong các trường học của chúng ta có vẻ đang học hành một cách uể oải và thiếu động lực? Tại sao một số trẻ có vẻ như bị thúc đẩy bởi nỗi sợ phải làm bài kiểm tra hay khao khát tuyệt vọng muốn tránh bị chê bai? Và tại sao một số em khác lại cư xử như những kẻ thô lỗ, hỗn xược với giáo viên và bày trò phá hoại trong trường? Đương nhiên, đó chính là những câu hỏi mà nghiên cũ đã hướng đến, và kết quả cho thấy rằng loài sinh vật bẩm sinh có xu hướng phát triển và đấu tranh, tức là người, thực ra dễ bị kiểm soát và cảm thấy mình không có sức ảnh hưởng. Ngay cả trong những hoàn cảnh mà một người thấy tương đối tốt, như dựa vào những phần thưởng để thúc đẩy hoạt động chẳng hạn, thì động lực tự nhiên hướng đến sự trưởng thành cũng có thể suy yếu một cách nghiêm trọng. Khi điều đó xảy ra, con người bắt đầu trông giống một bộ máy thụ động, như nhiều nhà tâm lý học thực nghiệm đã chỉ ra, hoặc giống những kẻ mang dã mà Talcott Parsons đề cập Có hai kiểu bối cảnh chính có thể biến một cuộc sống sinh động thành một cuộc sống đầy bất mãn. Kiểu thứ nhất, những bối cảnh xã hội cực kỳ mâu thuẫn và hỗn loạn, khiến người ta không thể biết được xã hội kỳ vọng gì ở họ và làm sao hành động một cách chuẩn mực để đạt được kết quả bên trong lẫn bên ngoài, sẽ gây cản trở cho tinh thần con người nói chung. Kiểu thứ hai và kém rõ ràng hơn là trọng tâm của cuốn sách này, cụ thể là các môi trường mang tính kiểm soát đòi hỏi, gây áp lực, kích động, phỉnh phờ Con người để hành động, suy nghĩ, hãy cảm nhận theo những cách đặc thù. Đây là những môi trường thúc đẩy sự tự động hóa, những người suy luận theo kiểu công cụ tuân thủ các mệnh lệnh, thì theo nghĩa nào đó chị sống nửa chừng, nhưng đôi lúc họ lại cảm thấy thôi thúc bức tuần sự kiểm soát. Nếu con người liên tục bị đối xử như thể họ là những cỗ máy thụ động hay những kẻ mang dã cần được kiểm soát, họ sẽ bắt đầu hành động theo kiểu đó ngày càng nhiều hơn. Khi họ bị kiểm soát, họ có khả năng ngày càng hành động như thể họ được cần kiểm soát. Để có được động lực nội tại, con người cần phải hiểu được rằng bản thân mình có đủ năng lực và sự tự chủ, họ cần phải cảm thấy rằng họ có sức ảnh hưởng và khả năng tự quyết. Còn ý kiến của người khác không ảnh hưởng gì cả. Quan điểm của con người về có năng lực (hay không có năng lực) thường được liên kết khá chặt chẽ với phong độ thực tế của họ là một hoạt động cụ thể nào đó. Khi con người thành công không ở một hoạt động, nghiên cứu cho thấy rằng nhiều khả năng họ sẽ tự nhận thấy bản thân có năng lực hơn. Điều tương tự cũng xảy ra khi họ thắng một cuộc thi và khi họ nhận được phản hồi tích cực. Như vậy, nhận thức của họ không phải lúc nào cũng trùng khớp với dữ kiện khách quan. Yếu tố then chốt để xác định liệu của con người có đang sống một cách tự chủ hay không và liệu họ có cảm thấy tận sâu bên trong rằng những hành động của họ là lựa chọn của chính họ hay không. Nó là một trạng thái tâm lý cảm thấy tự do và nó tùy thuộc vào góc nhìn của người hành xử, có thể nói là vậy. Nhưng nó đòi hỏi con người phải có vẻ ngoài chân thành. Người ta hoàn toàn có thể cho biết là mình cảm thấy tự do, và thậm chí cũng có chút tin tưởng vào điều đó, trong khi đang tự lừa dối chính mình. Tất nhiên, trong trường hợp đó thì con người sẽ không bộc lộ những phẩm chất thử kết hợp với sự tự chủ được nhận thức. bởi vì vấn đề hành động tự chủ, và do đó cả quá trình phát triển hợp nhất, có liên quan đến trải nghiệm riêng của con người và hành vi của họ, nên các vấn đề này nghe có vẻ bí hiểm và khó nắm bắt. Nhưng chắc chắn sự thật là chúng ta đều có thể cảm nhận bên trong bản thân mình, ít nhất là bằng trực giác nếu tự chủ. Chúng ta có thể biết nếu nó khiến ta quan tâm, khi nào những hành động của chúng ta là do ta tự khởi phát hoặc tự tán thành, chúng ta có thể biết khi nào chúng ta quan tâm, dấn thân vào sống. Có một cảm giác hài hòa, một cảm giác hợp nhất về cảm xúc với những khía cạnh khác nhau của bản ngã hoạt động trong sự cộng tác đầy mãn nguyện, ngay cả khi bản ngã được đề cập không đồng bộ với những kỳ vọng của xã hội. Vốn dĩ, sẽ có lắm lúc con người không sẵn sàng trung thực với chính mình, khi họ sa lầy và tự lừa dối mình và cứ nhất định rằng họ thật sự muốn làm điều đó mà thật ra họ đang làm vì nghĩa vụ hay sợ hãi. Nhưng ngay cả khi đó, họ vẫn có thể lờ mờ nhận ra rằng có gì đó không hoàn toàn đúng, sự hoài nghi đó có thể cho họ một tín hiệu để nhìn sâu hơn. Họ sẽ thấy được sự căng thẳng bên trong và nhận ra họ đang cố chấp như thế nào. Họ sẽ nghi ngờ bởi vì họ biết khi họ phản ứng quá lố thì có nghĩa là gì. Con người không chỉ cần có sức ảnh hưởng và tự do, mà họ còn cần cảm thấy được kết nối với người khác trong khi có ích và tự chủ. Đó là nhu cầu thân thuộc, nhu cầu yêu và được yêu, quan tâm và được quan tâm. Người ta thường miêu tả rằng nhu cầu có được sự tự chủ và thân thuộc là hoàn toàn trái ngược nhau. Họ nói rằng, bạn phải từ bỏ sự tự chủ để gắn kết với những người khác, nhưng đó chỉ là một đánh giá sai lầm về loài người, một phần của sự nhầm lẫn này bắt nguồn từ việc đánh đồng tự chủ với độc lập, thực ra là những khái niệm rất khác nhau. Độc lập nghĩa là làm vì bản thân bạn, là không phụ thuộc vào người khác để được nuôi dưỡng cá nhân hãy ủng hộ về mặt cảm xúc. Tự chủ, ngược lại, nghĩa là hành động một cách tự do, nhận thức rõ về sự tự do ý chí và lựa chọn. Do đó, một người có thể độc lập và tự chủ tức là tự do không cần dựa dẫm vào người khác, hoặc độc lập phải bị kiểm soát tức là cảm thấy bị ép buộc không được dựa dẫm vào những người khác Trái ngược với độc lập chính là phụ thuộc, nghĩa là dựa vào người khác để có sự hỗ trợ liên cá nhân. Con người thường có khuynh hướng hình thành mối quan hệ tình cảm với người khác và rồi cả hai đều phụ thuộc và lo liệu cho nhau. Sự phụ thuộc được thúc đẩy bởi nhu cầu có được sự thân thuộc, nó được bền chặt bằng tình yêu, và việc cảm thấy độc lập một cách có tự chủ là hiển nhiên hữu ích và lành mạnh. giống như độc lập có thể cùng tồn tại với tự chủ hay kiểm soát, sự phụ thuộc cũng có thể cùng tồn tại với một trong hai điều bẩy. Sự phụ thuộc tự chủ thực ra là một trạng thái hoàn toàn tự nhiên. Sự phụ thuộc ép buộc hay kiểm soát, phụ thuộc mà không thật sự được lựa chọn, là một trường hợp thích nghi kém. Sự độc lập thường bị đánh giá sai trong xã hội của chúng ta, một xã hội có xu hướng tôn sùng sự độc lập, những con người cần cả sự tự chủ và sự thân thuộc, nên sự kết hợp của cả hai, thứ dẫn đến sự phụ thuộc tối ưu nhất, sẽ tạo ra được những yếu tố tương quan tích cực. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Gắn kết thế giới bằng ý thức về năng lực
- 10 Apr, 2024
Động lực thúc đẩy đòi hỏi con người phải nhìn thấy mối quan hệ giữa hành vi của họ với kết quả mà họ khao khát, đó là phương tiện và là sự gắn kết cho phép con người nhìn thấy những mối quan hệ hành vi kết quả đó. Phương tiện có thể được tạo ra ở cấp độ hệ thống kinh tế, ở cấp độ một tổ chức và ở cấp độ tương tác giữa hai cá nhân như cha mẹ và con cái. Nếu con người không tin rằng hành vi của họ sẽ dẫn đến thứ gì đó mà họ mong cầu, dù sự thiếu hụt phương tiện là lỗi của hệ thống, tổ chức, hay cá nhân ở địa vị cao hơn, thì họ sẽ không có động lực. Người ta không tin rằng làm việc hiệu quả sẽ dẫn đến những kết quả có ý nghĩa, vậy nên họ đã thể hiện rất ít những hành vi hiệu quả. Tính hiệu quả là quan trọng nhất và những phần thưởng từ bên ngoài, được trao để khiến cho con người làm việc hiệu quả. Sự liên kết giữa hành vi và những phần thưởng từ bên ngoài là một phần hấp nhất của hệ thống và nó cư ngụ trong tâm trí của hầu hết các cá nhân. Hệ thống có những chỗ thiếu hiệu quả và có người đã phải dùng đến cách thao túng hệ thống, nhưng các phương tiện vẫn ở đó, và theo như nhà kinh tế học Hồng Kông Henry Woo thì chúng đã dẫn đến việc sử dụng vốn con người, đặc biệt hiệu quả khi so với tình trạng tương đối thiếu hụt phương tiện trong những nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Sự kiểm soát vốn liên quan đến việc sử dụng các phương tiện để tạo áp lực, buộc con người phải cư xử theo những cách cụ thể nào đó, là một dạng thức của động lực, và những phương tiện như phần thưởng ngoại tại sẽ cho phép sự kiểm soát trở thành một chiến lược thúc đẩy hiệu suất tương đối thành công. Nhưng vấn đề là sự kiểm soát về căn bản gây nhiều hệ quả tiêu cực cho con người, các bậc phụ huynh có năng lực nhất sẽ sử dụng những chiến lược về phần thưởng theo cách không kiểm soát con cái và kết quả thu được khá tích cực. Điều này cũng đúng với các nhà quản lý, giáo viên, huấn luyện viên. Chẳng hạn, ở các công ty sớm nhận thức được vấn đề này, nhà quản lý hiểu rõ tầm quan trọng của động lực nội tại, do đó, họ thiết kế ra nhiều công việc thú vị hơn và trao cho nhân viên cơ hội tham gia vào các quyết định. Tức là, họ sẽ cho nhân viên lựa chọn, để hoạt động có hiệu quả, có thể trở thành sự thỏa mãn từ bên trong. Đồng thời, họ không phụ thuộc vào sự tiên lượng và phần thưởng bên ngoài để thúc đẩy hành vi, mai sử dụng phần thưởng đơn thuần như một phương tiện để công nhận thành quả. Sự tiên lượng về phần thưởng bên ngoài tồn tại trong những công ty như vậy theo nghĩa con người phải thể hiện bản thân một cách hiệu quả mới giữ được công việc và thăng tiến, nhưng sự tiên lượng đó không được nhấn mạnh như là phương tiện kiểm soát. Điều này cũng cực kỳ quan trọng ở cấp độ hoạch định chính sách. Khi những người đưa quyết định hiểu rằng con người có thể được thúc đẩy bằng cách tự chủ hay bị kiểm soát, và rằng các hệ thống, tổ chức và cá nhân có thể thúc đẩy động lực theo những cách khuyến khích tự chủ hay kiểm soát, thì họ mới có thể tạo ra những chính sách hướng đến khuyến khích sự tự chủ hơn là kiểm soát hành vi. Đương nhiên, việc thiếu vắng động lực đến từ việc thiếu những tiên lượng phần thưởng hiệu quả tồn tại ở cấp độ liên cá nhân, cũng như ở cấp độ hệ thống, và nó đã ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Để nguồn động lực từ bên ngoài hoạt động như một nhân tố thúc đẩy, ta cần phải làm rõ xem những hành vi nào được mong đợi, với những kết quả nào sẽ sinh ra từ những hành vi mang tính công cụ đó. James Cornell và Ellen Skinner, trong chương trình động lực cho nhân loại (Human Motivation) tại Đại học Rochester, đã tóm tắt các luận điểm này rằng con người cần có cả các chiến lược và khả năng đạt được kết quả mà họ khao khát. Việc cảm thấy bản thân có đủ năng lực là điều quan trọng cho cả động lực ngoại tại lận nội tại. Dù cho hành vi có là phương tiện để mang lại những kết quả từ bên ngoài như tiền thưởng và sự thăng tiến, hay những kết quả ở bên trong như niềm vui của công việc và cảm giác thành tựu cá nhân, thì người ta vẫn phải cảm thấy mình có đủ năng lực cho các hành vi mang tính phương tiện để đạt được kết quả mong muốn. Những tiên lượng phần thưởng bên ngoài thường định rõ các yêu cầu về mặt năng lực, nói cách khác, con người ở địa vị cao hơn thường đòi hỏi chất lượng làm việc ở một mức độ nào đó để tạo ra những kết quả bên ngoài. Các phần thưởng liên kết với động lực nội tại là cảm giác của niềm vui và thành tụ sinh ra khi một người được tự do tham gia vào các hoạt động mục tiêu. Do đó, cảm thấy có đủ năng lực trong một công việc là khía cạnh quan trọng để có ngửi thấy thoải mãn từ bên trong. Cảm giác bản thân đang làm việc hiệu quả khiến ta hài lòng theo cách riêng của nó, và thậm chí có thể đại diện cho nỗ lực đầu tiên của mục sự nghiệp trọn đời. Người ta nhận ra rằng càng đặt tâm sức vào công việc, họ càng trở nên giỏi hơn. Nhờ đó, họ cũng sẽ trải nghiệm sự thỏa mãn bên trong nhiều hơn. Dẫn chứng: Có một "người viết lại" gần như là huyền thoại ở một tờ nhật báo lớn ("người viết lại" là một phóng viên làm việc ở tòa soạn, truyện viết lại các thông tin vô ngủ tinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau gửi về để thành câu chuyện hoàn chỉnh). Anh bạn này rất giỏi trong công việc đó và thấy hài lòng với nó đến mức không có hứng thú với bất kỳ công việc nào khác. Anh ta không ngại làm thêm giờ, anh ta dường như say sưa trong nhịp điệu kỳ lạ của công việc anh làm, Chơi cờ với bạn bè của mình một chút là đã hối hả lao đến chỗ máy tính để gõ nghe một câu chuyện khi thông tin về một trận hỏa hoạn hay động đất khủng khiếp nào đó bất ngờ ấp đến. Bất kỳ câu chuyện nào anh ta được sao cũng đều trở nên nguyên sơ và sáng sủa. Tất nhiên, coing ty đã đánh giá tài năng của anh cao đến mức họ muốn thăng chức cho anh thành một biên tập viên được trả lương cao, và cất nhắc anh lên những công việc quan trọng hơn nữa. Nhưng anh là một người viết lại! anh thích sự thử thách và hào hứng của nó, và anh thích cảm giác thành tựu mà công việc ưu tú đó mang lại. Anh đã từ chối sự đề bạt ngay cả khi xếp đến gặp và yêu cầu anh chấp nhận. Nhà tâm lý học nhân cách Robert White Đã viết một bài báo khác thuyết phục về "Khái niệm năng lực", trong đó ông lập luận rằng con người quá khát khao cảm giác mình có đủ năng lực hay có khả năng xử lý môi trường của họ, đến mức năng lực có thể xem là một nhu cầu cơ bản của con người. Điều này rõ ràng là đúng với anh bạn làm nghề viết lại. Lý thuyết của White đã đặt ra vấn đề rằng có một nhu cầu tâm lý quan trọng thứ hai, trên cả sự tự chủ, nằm bên dưới hành vi được thúc đẩy từ bên trong. Con người, được thúc đẩy bởi nhu cầu được cảm thấy mình có đủ năng lực, có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau chỉ để mở rộng cảm giác thành tụ của riêng họ. Ví dụ: Tình hiếu kỷ ở trẻ em, động lực nội tại thúc đẩy chúng học hỏi, ở một mức độ đáng kể, có thể quy vào nhu cầu cảm thấy mình có sức ảnh hưởng hoặc có đủ năng lực trong việc đương đầu với thế giới của chúng. Tất cả những điều này không phải vô tổ chức theo nghĩa tiêu cực là bọn trẻ bị bỏ mặc hay tự do làm gì cũng được. Ngược lại, các giáo viên luôn chú ý hướng dẫn, khuyến khích bọn trẻ suy ngẩm về việc chúng đang làm với những đứa trẻ lớn luôn làm gương cho các em nhỏ hơn noi theo. Dĩ nhiên, các bé nhỏ nhất cảm thấy thôi thúc bởi khao khát muốn làm được, muốn hoàn thành nhiệm vụ và học hỏi, bởi nhu cầu cảm thấy mình có đủ năng lực, và chúng được dẫn dắt bởi những người lớn quan tâm đến sự phát triển của trẻ em. Ở những đứa trẻ này, người ta nhìn thấy động lực nội tại đầy hân hoan trong mọi việc chúng làm, xu hướng khám phá và trải nghiệm, khao khát tìm kiếm cái mới, và nhu cầu cảm thấy mình có đủ năng lực là một nguồn năng lượng quan trọng. Cảm giác mình có đủ năng lực khi ai đó đảm nhận một công việc và gặp được những thách thức tối ưu, dưới góc nhìn riêng của họ. Thách thức tối ưu chính là khái niệm then chốt ở đây, làm được điều gì dễ dàng một cách tầm thường không giúp bạn thấy mình có năng lực, bởi vì cảm giác mình có sức ảnh hưởng chỉ tự nhiên sinh ra khi người ta cố gắng hướng đến thành tựu. Nếu thực sự có một nhu cầu bẩm sinh về năng lực, thì cảm giác của việc thấy mình có đủ năng lực sẽ tác động đến động lực nội tại của con người. Việc năng lực nhận thức được có liên quan đến động lực nội tại, trực tiếp dẫn đến một loạt vấn đề quan trọng về việc phản hồi cho người khác. Chẳng hạn, khen ngợi màn thể hiện có giúp ích gì cho động lực nội tại của con người không? Khi khen ngợi là một phần thưởng từ bên ngoài, nhưng nó khác với những loại phần thưởng khác. Nó không hữu hình như tiền bạc và không được đề nghị ngay từ đầu, và bạn sẽ không bao giờ nghe ai đó nói rằng "Tôi sẽ khen ngợi bạn nếu bạn làm thế này thế kia". Dẫu sao thì sự khen ngợi vẫn được sử dụng làm phần thưởng một cách rộng rãi và các chuyên gia thường khuyến khích dùng lời khen như một yếu tố thúc đẩy ở chỗ làm, ở nhà, trường học và trong cuộc sống hằng ngày. Người ta nghĩ rằng nó hiệu quả, họ cho rằng nếu khen ngợi ai đó vì một cử chỉ xứng đáng, thì lời khen ngợi sẽ khiến người đó cảm thấy vui vẻ hơn, và nhiều khả năng họ sẽ thực hiện lại hành vi đáng mong đợi đắng một lần nữa. Giữa thập niên 1970, và một trong những quan điểm thúc bách nhất vào thời điểm đó, Dù tất nhiên ngày nay nó đã khá quen thuộc, là những rằng nữ giới và nam giới đã được xã hội hóa khác nhau như thế nào xuyên suốt thời thơ ấu. Con trai mong đợi sẽ phiêu lưu mạo hiểm hơn so với con gái, con trai được mong đợi sẽ tập trung vào thành công, còn con gái tập trung và sự nhị cảm liên cá nhân. khi sử dụng lời khen, bạn buộc phải cẩn trọng với những Ý hướng của riêng mình. Bạn có đang khen ngợi để cố gắng bắt người đó làm nhiều hơn. Có phải bạn đang cố kiểm soát người khác một cách khôn khéo. Với những lời khen, phần thưởng, với những giới hạn, nếu muốn sử dụng chúng mà không gây xói mòn động lực nội tại, bạn phải dùng hết tâm trí để giảm thiểu ngôn ngữ mang tính kiểm soát, phong cách mang tính kiểm soát, cũng như các kế hoạch kiểm soát hành vi của người khác. Khi tạo ra những buổi cảnh liên cá nhân mang tính kiểm soát cao, chúng ta đã làm xói mòn khao khát tự nhiên lại cảm thấy bản thân có năng lực. Nhiều nhà tâm lý học xã hội và lâm sàng ngày nay đã nói đến khái niệm năng lực được nhận thức (perceived competence), Như nhà tâm lý học Albert Bandura của đại học Stanford. họ đồng thuận rằng cảm giác quan trọng của việc thấy mình hiệu quả là cần thiết cho động lực ở cấp độ cao, nhưng họ không nhận ra rằng động lực được nhận thức phải kèm theo trải nghiệm tự chủ thì mới có được kết quả tích cực nhất. Khi con người nâng cao năng lực trong việc đối mặt với bản thân và thế giới của họ, và càng tự chủ trong việc đó, họ sẽ càng làm việc hiệu quả hơn và thể hiện cảm giác hạnh phúc to lớn hơn. Nhưng nâng cao năng lực thôi thì chưa đủ, là một con tốt có năng lực, làm việc hiệu quả, nhưng nếu không cảm thấy bản thân thật sự có ý chí tự do Và được tự quyết với hoạt động sở trường của mình thì sẽ không thể thúc đẩy động lực nội tại và hạnh phúc nói chung. tất nhiên, trường hợp tệ nhất là thiếu cả năng lực được nhận thức và sự tự chủ được nhận thức, dễ dẫn đến tình trạng đau khổ như trầm cảm, một trạng thái thiếu động lực gây nên tuyệt vọng, thậm chí cả cái chết. Nhưng năng lực được nhận thức mà không đi kèm sự tự chủ được nhận thức thì cũng thể hiện những tác động tiêu cực. Trên thực tế, khi người lớn khuyến khích tự chủ, họ hầu như sẽ đặt ra những thử thách tối u, bởi vì khuyến khích tự chủ bao gồm hiểu được vị thế, Điểm nhìn của người khác. Khi có người làm được vậy, họ sẽ hiểu điều gì là tối ưu cho người khác. Đặt ra cho người khác những thử thách để họ cảm nhận được năng lực và sự tự chủ của bản thân sẽ giúp tạo ra nhiều động lực, hạnh phúc và sức sống hơn. Sự tự chủ là nhiên liệu cho sự trưởng thành và khỏe mạnh, bởi vì nó cho phép con người thấy được họ đang là chính mình, là những tố khởi xướng hành động của chính họ. Năng lực được nhận thức, hay quyền làm chủ, mà không có sự tự chủ được nhận thức là chưa đủ, bởi vì một con rối có năng lực sẽ không nuôi dưỡng được nhưng tính. Với năng lực kiểu như vậy, bản chất của sự sống sẽ biến mất. Nếu phản hồi tích cực có thể có khả năng gây hại cho động lực và thể hiện vì làm giảm đi sự tự chủ được nhận thức, vậy còn trường hợp phản hồi tiêu cực thì sao? Đương nhiên, câu trả lời rất rõ ràng: nó còn gây ra thảm họa hơn nhiều. Để thúc đẩy sự thể hiện và giải quyết vấn đề tối ưu, con người cần phải được thúc đẩy từ bên trong. Như chúng ta đã thấy, nó bắt đầu bằng những phương tiện, với những người hiểu rõ cách làm sao để đạt được kết quả mong muốn, và với những người cảm thấy mình có đủ năng lực thực hiện các hoạt động mang tính công cụ đó. Và rồi nó sẽ được nuôi dưỡng bởi các bối cảnh liên cá nhân khuyến khích sự tự chủ của con người. Với những thành phần quan trọng này, người ta sẽ có khả năng tự đặt ra các mục tiêu của riêng họ, phát triển những tiêu chuẩn của riêng họ, giám sát sự tiến bộ của họ, và đạt được những mục tiêu không chỉ có lợi cho bản thân mà còn cho nhóm hay tổ chức mà họ thuộc về. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Management
- +1
i'm BÌNH ĐINH
Welcome to my cozy internet corner, where I'm dedicated to sharing random thoughts and delightful creations. Here, I invite you to embark on a journey of creativity, simplicity, and positivity. Join me as we explore and share with enthusiasm.
Let's dive in!