Khi xã hội mục nát
- 10 May, 2024
Các nhà nghiên cứu tập trung vào sáu loại khát vọng. Ba trong số đó là những gì chúng ta gọi là khát vọng bên ngoài. Chúng là khát vọng được giàu sang, nổi tiếng và có ngoại hình quyến rũ. Chúng là những khát vọng mà kết quả mong muốn là công cụ cho những mục đích khác. Tiền mang loại quyền lực và sự sở hữu vật chất. Danh vọng mở ra nhiều cánh cửa và có thể dẫn ta đến một cơn mưa quà tặng. Một hình ảnh đẹp cho ta những lựa chọn như người tình quyến rủ, cơ hội tiếp thị và những chú ý không ngừng. Trái lại, ba khát vọng còn lại được gọi là những khát vọng bên trong, bởi vì chúng cho ta phần thưởng của riêng chúng ta và giúp ta thỏa mãn nhu cầu bẩm sinh là có được năng lực, tự chủ và sự kết nối. Ba khát vọng đó là, có được các mối quan hệ cá nhân thỏa mãn, đóng góp cho cộng đồng và trưởng thành như những cá nhân. Đương nhiên, cũng có khả năng một mối quan hệ cá nhân thoả mãn với một người có sức ảnh hưởng sẽ mở ra những cánh cửa và việc đóng góp cho cộng đồng sẽ mang lại sự tung hô, vậy nên những khát vọng bên trong cũng có thể có những lợi thế mang tính phương tiện. Con người cảm nhận được sự thỏa mãn cá nhân đáng kể nhờ ba kết quả bên trong, dù chúng có dẫn họ đến những kết cục khác hay không. Tất cả sáu khát vọng này đều là những khát vọng mà hầu hết chúng ta đang nắm giữ, thậm chí khát vọng bên ngoài như thành công về tài chính cũng quan trọng, ít nhất là ở một mức độ nào đó, để sống một cuộc đời viên mãn. Không thể chối cãi rằng việc muốn sở hữu một mảnh đất nhỏ để cư ngụ, tìm kiếm thức ăn, chăm sóc y tế và phải thú vui thẩm mỹ cho bản thân và cùng gia đình là hoàn toàn hợp lý. Nhưng những gì mà các nhà nghiên cứu quan tâm chủ yếu là những thứ xảy ra khi khát khao của con người trong một hay nhiều mục tiêu sống này mất cân bằng với những cái khác. Trong nghiên cứu, các cá nhân đánh giá tảm quan trọng của mỗi khát vọng sống trong số này đối với bản thân họ. Bằng một phương pháp thống kê phức tạp, Ryan đã chỉ rõ mức độ mà khao khát của các cá nhân dành cho một mục tiêu mất cân bằng với những mục tiêu khác. Chẳng hạn như, nếu Kevin Jacobs hoàn thành bảng hỏi trước khi tham gia quá trình trị liệu, thì chắc chắn khao khát thành công vẻ mặt vật chất của anh ta sẽ mất cân bằng với khát vọng đóng góp cho cộng đồng và các mối quan hệ cá nhân. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng nếu bất kỳ khát vọng nào trong số ba khát vọng bên ngoài - tiền bạc, danh vọng hay sắc đẹp - quá cao so với ba khát vọng bên trong cá nhân đó cũng có khả năng biểu hiện sức khỏe tinh thần nghèo nàn hơn. Chẳng hạn, một nhà tâm lý học lâm sàng đã được đào tạo sẽ đánh giá rằng việc có một khát vọng mãnh liệt bất thường dành cho thành công về vật chất gắn liên với hội chứng tự yêu mình, lo âu, trầm cảm, và chức năng xã hội nghèo nàn hơn. Những khát vọng bên ngoài khác cũng gắn liên với những chỉ số chức năng tâm lý kém hơn. Ngược lại, những khát vọng mãnh liệt cho bất kỳ mục tiêu nội tại nào - các mối quan hệ ý nghĩa, sự phát triển Cá nhân và những đóng góp cộng đồng, điều liên kết một cách tích cực với hạnh phúc. Chẳng hạn, những người khao khát cháy bỏng được đóng góp cho cộng đồng sẽ có sức sống và lòng tự trọng cao hơn. Khi con người tổ chức hành vi của họ trên phương diện những đấu tranh nội tâm so với những đấu tranh bên ngoài, họ dường như hài lòng hơn, họ cảm thấy ổn hơn về con người họ và biểu hiện sức khỏe tâm lý rõ ràng hơn. giàu có và danh vọng tạo ra chính là con người sợ ho sẽ không bao giờ có thể đạt được chúng, và một số nhà tâm lý học đã đặt ra giả thuyết rằng những kỳ vọng tiêu cực này là thứ gây nên sự khổ sở. Nếu con người quá coi trong việc đạt được bất cứ mục tiêu nào và tin rằng họ sẽ không thể nào chạm đến mục tiêu đó, thì họ sẽ cảm thấy không hạnh phúc và có lẽ sẽ tuyệt vọng. Trong nghiên cứu về những khát vọng sống, Kasser và Ryan đã yêu cầu các đối tượng trả lời báo cáo niềm tin của họ về khả năng đạt được mỗi một mục tiêu trong số ba mục tiêu bên trong và ba mục tiêu bên ngoài là bao nhiêu. Hãy nhớ lại phát hiện đầu tiên đã chỉ ra rằng nếu con người quá tha thiết với những mục tiêu bên ngoài, họ sẽ có sức khỏe tinh thần yếu ớt. Phát hiện quan trọng thứ hai là ngay cá khi các đối tượng trả lời nghĩ rằng cơ hội đạt được những mục tiêu bên ngoài cao, thì họ vẫn cho thấy sức khỏe tinh thần yếu kém. Dù việc ấp ủ những khát vọng bên ngoài và tin rằng mình không thể đạt được chúng chắc chắn sẽ khiến con người mắc chứng khó tiêu, nhưng phát hiện ít hiển nhiên và nhiều sắc sảo hơn từ nghiên cứu này lại cho thấy rằng việc giữ chặt lấy những nguyện vọng bên ngoài và tuyệt đối tin rằng họ sẽ có thể đạt được chúng cũng gắn liền với sức khỏe tâm lý yếu hơn. Dự báo quan trọng cho hạnh phúc của một cá nhân liên quan nhiều tới kiểu khát vọng mà họ ôm ấp hơn là những mong đợi của họ về việc đạt được khát vọng ấy. Những nghiên cứu này đã mang lại một khía cạnh mới cho nghiên cứu về sự tự chủ cá nhân. Trong khi các nghiên cửu trước đó tập trung vào những vấn đề như chất lượng trải nghiệm và phong độ thể hiện của một người, thì những nghiên cứu này vẽ ra sự liên kết trực tiếp giữa các kiểu động lực và sức khỏe tinh thần cá nhân. Dường như những người khỏe mạnh nhất tập trung vào việc phát triển các mối quan hệ cá nhân khiến họ thoải mãn, trưởng thành như những cá nhân, và đóng góp cho cộng đồng của họ. Chắc chắn họ cũng mong mói thành công về mặt tài chính đủ để sống một cách thoải mái. Thế nhưng sử giâu có, danh vọng lản sắc đẹp không chiếm một phân quả lớn trong ý thức của những người này như cách mà chúng chi phối trải nghiệm của những cá nhân kém ổn định về mặt tâm lý hơn. Ấn dưới việc đặt nặng vào các mục tiêu bên ngoài chính là sự ảnh hưởng có ít ý nghĩa đối với bản ngã của một người. Những mục tiêu bên ngoài đó khiến ta chú ý đến những gì họ có hơn là con người thật sự của họ. Chúng tạo thành vẻ bề ngoài, một nhân cách bắt nguồn từ xã hội không có nền tảng vững chắc. Khi không có cảm giác vô cùng hài lòng, không đạt được sự thóa mãn những nhu cầu nội tại của bản thân, con người bắt đầu khao khát những mục tiêu nông cạn hơn. Những khát vọng bên ngoài quá mãnh liệt, do đó, có thể được hiểu như đang thể hiện những khía cạnh của bản ngã giả tạo. Chúng có sức mạnh bởi vì lòng tự trọng có điều kiện của con người phụ thuộc vào việc đạt được những mục tiêu. Khi con người phải không ngừng chịu đựng tình yêu và sự tôn trọng có điều kiện, đặc biệt khi họ còn trẻ, họ học cách tìm kiếm những tiêu chuẩn bên ngoài, coi đó là cơ sở để phán xét giá trị của họ - ban đầu là những thứ cha mẹ họ cho rằng cần thiết và sau đó đến những gì mà xã hội tuyệt đối và kiên quyết tán thành. Trong quá trình phát triển định hướng về những tiêu chuẩn bên ngoài đối Với việc phán xét giá trị của bản thân, con người trở nên đặc biệt dễ tổn thương trước những tác động của xã hội. Họ có nhiều khả năng chấp nhận các giá trị mà xã hội có vẻ ủng hộ hơn. Đáng chú ý nhất, họ chấp nhận những giá trị vốn có trong quảng cáo, những giá trị như tích lũy khối tài sản nhiều và xa hoa hơn, và những giá trị mà các mục tiêu chuẩn dễ dàng thấy rõ sau sự giàu có, danh vọng hay vẻ bề ngoài. Đương nhiên, những khát vọng bên ngoài hoàn toàn phù hợp với mô tả này. Kasser, Ryan và các cộng sự đã điều tra, nghiên cứu tiền đẻ phát triển của những kiểu khát vọng khác nhau với hy vọng làm sáng tỏ thêm mỗi quan hệ động lực giữa các khát vọng và sức khỏe tinh thần. Để làm được điều này, họ sử dụng dữ liệu thu thập từ các bà mẹ và những đứa con qua giai đoạn mười bốn tuổi. Đúng như suy đoán của họ, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người con mười tám tuổi quá coi trọng những khát vọng bên ngoài như sự giàu sang đều có những bà mẹ thích kiếm soát (thay vì khuyến khích tự chủ) và lạnh lùng (thay vì biết dạy dỗ) khi con còn nhỏ. Ngược lại, những bà mẹ ấm áp, quan tâm và khuyến khích tự chủ sẽ có những đứa con trưởng thành và khao khát nhiều thành quả bên trong hơn. Thuật ngữ nhu cầu của con người thường được sử dung và nhìn chung bị đánh đồng với ý nghĩa ước muốn hay khao khát. Thứ mà một người muốn có hay được cho là thứ mà họ cản. Nhưng đó lại là một cách dùng không chính xác và sai lệch về khái niệm nhu cầu của con người. Thay vào đó, theo Abraham Maslow, chúng ta định nghĩa nhu cầu của con người là một điều kiện sinh vật - dù về mặt triết học hay tâm lý học - phải được thỏa mãn cho con người để duy trì sức khỏe và nếu không được thỏa mãn sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động khác thường của cơ thể. Để một xã hội vận hành hiệu quả, những thành viên cả nhân của nó phải phân nào đó làm theo những giá trị hay tập tục của xả hội. Nhưng việc nội hóa các giá trị và sẵn sàng sống theo chúng là một vấn đề nhay cảm dựa trên hai cơ sở. Thứ nhất, để có ích với tư cách cá nhân, giá trị của một người và động lực hành xử đi kèm phải được tích hợp, chúng phải trở thành một phản của bán ngã nhất quán. Nếu không, chúng sẽ thuân hóa bán ngã cho xã hội. Và thứ hai, nếu như các giá trị và tập tục mà xã hội đặt ra cho cá nhân - những giá trị như chủ nghĩa vật chất cực đoan - sai lệch với nhu cầu con người cơ bản của các cá nhân đó, quá trình nội hóa sẽ không như ý muốn. Con người có thể nội hóa các giá trị, nhưng họ sẽ phải trả một cái giá cực kỳ đắt nếu họ cứ tiếp tục nỗ lực để sống đúng với những giá trị bên ngoài mạnh mẽ khác thường đó. Việc bám lấy những giá trị bên ngoài vốn có bản chất dễ nhận thấy hơn những giá trị bên trong là minh chứng cho việc thiếu sự hợp nhất các giá trị này. Nếu việc coi trọng tiền bạc được hợp nhất vào nhận thức về bản ngã của con người, thì khát vọng đó sẽ cân bằng với những khát vọng khác - nó sẽ có giá trị vì lợi ích của nó khi cho phép họ sống một cuộc đời trọn vẹn và cân bằng, tạo ra những cơ hội có ý nghĩa để kết nối, đưa ra những trải nghiệm thẩm mỹ, giúp dỡ người khác và hỗ trợ những tổ chức công cộng. Nếu những khát vọng về tiền bạc của họ được hợp nhất tốt, họ se sản sàng đóng góp cho đài phát thanh công cộng hay hội hướng đạo sinh chẳng hạn, mà không cần được công nhận hay tán thưởng. Việc hợp nhất các giá trị bên ngoài - tức là sự cân bằng giữa chúng với các giá trị bên trong - chịu ảnh hưởng đáng kể của cách nuôi dạy con, như nghiên cứu của Kasser và Ryan đã chỉ ra. Những bậc cha mẹ biết dạy dỗ con cái và khuyến khích tự chủ có nhiều khả năng có được những đứa con hợp nhất được các giá trị bên ngoài hơn. Nhưng không phải toàn bộ trách nhiệm đều nằm ở các bậc phụ huynh. Xã hội, với áp lực cùng cực của việc nhấn mạnh vào chủ nghĩa vật chất, là một trở ngại kinh khủng cho việc thúc đấy sự cân bằng trong các giá trị của con cái chúng ta - và thật ra trong chính bản thân chúng ta nữa. Những câu chuyện làm giàu từ hai bàn tay trắng đầy rẫy trong lịch sử văn hóa của chúng ta và được thêu dệt qua vô vàn những quyển sách giáo khoa để đưa ra một quan điểm được cường điệu hóa rằng: "Tất cả chúng ta đều có thể tạo ra cho mình bất cứ điều gì chúng ta muốn". Chủ nghĩa cá nhân được xem là tự do theo đuổi mục đích riêng của ban; nghĩa là không có sự tác động từ bên ngoài (hiểu là: Không có chính phủ) nào can thiếp vào những nỗ lực đạt được điều bạn khao khát, miền là bạn thực hiện nó một cách hợp pháp. (Giá trị của chủ nghĩa cá nhân cũng đòi hỏi ít nhất ban phải tuân thủ đúng luật). Tương tự, sự tự chủ có thể được định nghĩa là tự nguyện (nghĩa là, tự do) theo đuổi những mục tiêu mà bạn lựa chọn. Cả hai khái niệm do đó đều có một mối quan hệ nào đó với sự tự do, và cả hai đều truyền đạt ý thức về chế độ tự quản. Trái lại, tự chủ chính là hành động một cách tự nguyên, với ý thức về sự lựa chọn, tính linh hoat và tự do cá nhân. Đó là cảm giác thật sự sẵn lòng để hành xử một cách có trách nhiệm, theo đúng sự quan tâm và giá trị của bạn. Đối lập với tự chủ là bị kiểm soát, nghĩa là bạn bị gây áp lực để hành xử, suy nghĩ hay cảm nhận theo một cách cụ thể nào đó. Sự kiểm soát thường được những người ở vị thế bề trên hoặc xã hội sử dụng, nhưng dĩ nhiên con người có thể tự kiểm soát bản thân để thỏa mãn những nội nhập. Tự gây sức ép cho chính mình, ép bản thân hành động, hoặc cảm thấy như thể bạn phải làm gì đó chính là hủy hoại sự tự chủ của chính bạn. Một doanh nhân khó tính và thích cạnh tranh, đấu tranh để có nhiều quyền lực và giàu sang, có thể là một người theo chủ nghĩa cá nhân nghiêm ngặt, nhưng anh ta không phải là một hình mẫu tự chủ. Chừng nào việc theo đuổi các mục đích của anh ta còn bị gây áp lực hay ép buộc, ngay từ bên trong, thì anh ta vẫn chỉ có tính cá nhân chủ nghĩa chứ không hể tự chủ. Tự biết mình bắt đầu với sự chú tâm thoải mái đến những quá trình bên trong của một người; bắt đầu với sự quan tâm chân thật đến bản thân. Những gì vẫn được coi là tự biết mình thường không hẳn là thế, mà thay vào đó, nó liên quan đến sự đầu tư vào hình ảnh của bản thân, người khác nhìn mình thế nào, theo một cách đặc biệt - như thân thiện, giàu có, thông minh, hay thế nào khác. Khi con người quan tậm đến bản ngã bên trong theo một cách chân thành, họ sẽ có thể từ bỏ sự ràng buộc với cái tôi, và khao khát được hiểu những gì họ gặp phải khi khám phá nội tâm. Việc hiểu rằng chủ nghĩa cá nhân thường cùng tổn tại với sự kiểm soát thay vì sự tự chủ cho phép chúng ta hiểu được hiện tượng dường như nghịch lý này. Con người, khi để tâm đến những niềm say mê cá nhân của riêng họ, thường thấy áp lực phải củng cố ý thức về bản ngã của họ thông qua việc đạt được những khát vọng bên ngoài. Họ tuân thủ và phục tùng khi nỗ lực đạt được những mục tiêu đó. Đương nhiên, chẳng có gì sai hay yếu kém khi ước mơ - lựa chọn theo một kiểu tự do và tự chủ - được là một phần trong nhóm hay được giống các thành viên khác trong nhóm. Nó là một phần trong bản chất con người. Khi được hợp nhất tốt với tư cách những cá nhân, con người sẽ đủ vững vàng để kiên trì là chính mình trong xã hội không ngừng dịch chuyển, và đồng thời, bởi vì họ thu hút sức mạnh từ nhau, nên họ cũng vững vàng để nuôi dưỡng sự phụ thuộc vào những người khác.
- Blog
- Book
- Sharing
Bản ngã trong thế giới xã hội
- 03 May, 2024
Có bao giờ bạn tự hỏi : "Bản thân đã che giấu cảm xúc và niềm tin của mình nhiều như thế nào?". Bạn cho rằng, nếu thể hiện chúng ra, bạn sẽ cảm thấy bản thân thật ích kỷ và tội lỗi, và người ta sẽ không thích mình. Bạn không thể là con người thật sự của mình vì sợ hãi hay xấu hổ. Những cá nhân này có những sự nội nhập về việc họ nên trở thành người như thế nào và những sự nội nhập này neo chặt trong tâm trí họ. Một số cá nhân thậm chí còn nói rằng họ không biết bản thân mình là ai nếu tách rời với những gì họ nên, buộc và phải trở thành. Bị những sự nội nhập này chế ngự, người trẻ khoác lên mình vỏ bọc bên ngoài - một dạng của bản ngã giả tạo - vì họ không kết nối được với bản ngã thật sự của mình. Một trong những rủi ro gắn liền với việc là thành viên trong một đơn vị - một nhóm gia đình chẳng hạn, hay một xã hội - chính là con người có thể bị ép buộc phải từ bỏ hay che giấu con người thật của mình. Họ có thể cảm thấy buộc phải từ bỏ quyền tự chủ và bản ngã thật của họ để phù hợp với tập thể đó hơn. Sự hợp nhất, đại diện cho sự phát triển tối ưu và nằm trong mối quan tâm cao nhất về trẻ em và các tác nhân xã hội hóa của chúng, đòi hỏi phải khuyến khích cả sự tự chủ lẫn sự kết nối. Nhưng các tác nhân xã hội hóa lại quá thường xuyên đi ngược lại bản thân đứa trẻ bằng cách nỗ lực kiểm soát với sự yêu thương có điều kiện, trong khi khuyến khích tự chủ mới là những gì ta cần. Nếu sự tự chủ chống lại sự kết nối thì cái giá phải trả có thể là bản ngã của một người. Hầu hết các nhà tâm lý học và xã hội học hiện đại đều cho rằng bản ngã được lập trình xã hội, nghĩa là họ cho rằng những quan niệm của con người về bản thân họ được xây dựng dựa trên định nghĩa của xã hội. Theo góc nhìn đó, khi người khác khen bạn thân thiện, bạn liền nhìn bản thân mình như một người thân thiện. Khi người khác băn khoăn không biết bạn có thành công hay không, bạn liền nảy sinh ý nghĩ nghi ngờ về khả năng của chính mình. Khi những người khác cắt ngang các hoạt động của bạn để cho bạn thấy cách làm tốt hơn, bạn chấp nhận niềm tin rằng bạn không đủ khả năng. Bất kể thế giới xã hội có lập trình chúng ta thế nào đi nữa, thì đó cũng chính là những gì tạo nên bản ngã của chúng ta. Việc cho rằng bản ngã được xã hội định nghĩa chính là không có sự phân biệt giữa cái tôi đích thực và cái tôi giả tạo. Quan niệm ấy không nhận ra rằng mỗi người đều có một bản ngã bên trong (dù nó chỉ mới được sinh ra), cũng như các năng lực để tiếp tục tinh chỉnh và trau chuốt bản ngã đó. Do đó, bản ngã có thể phát triển đúng với bản chất của nó, hoặc nó có thể được xã hội lập trình. Thế nhưng bản ngã sinh ra từ hai quá trình này sẽ rất khác biệt. Tuy nhiên, bản ngã bên trong không phải là một thực thể được lập trình về mặt di truyền sẽ đơn giản bộc lộ theo thời gian. Thay vào đó, nó là một tập hợp các tiềm năng mối quan tâm và khả năng tương tác với thế giới, mỗi bên đều ảnh hưởng đến bên kia. Tại một thời điểm cụ thể, bản ngã là kết quả phát triển của mối quan hệ biện chứng. Khi quá trình này vận hành một cách hiệu quả, bản ngã đích thực sẽ hình thành; khi quá trình thất bại, bản ngã không đích thực sẽ được tạo ra. Như vậy, sự phát triển của bản ngã chịu ảnh hưởng rất nhiều của thế giới xã hội, nhưng bản ngã không phải do thế giới đó dựng lên. Thay vì vậy, các cá nhân đóng một vai trò chủ động trong sự phát triển của bản ngã, và bản ngã đích thực phát triển khi thế giới xã hội hỗ trợ cho hoạt động của cá nhân. Bản ngã đích thực bắt đầu từ bản ngã bên trong - từ những mối quan tâm và tiềm năng vốn có, cùng khuynh hướng sinh vật hợp nhất những khía cạnh mới trong trải nghiệm của chúng ta. Khi bản ngã đích thực được bồi đắp và hoàn thiện, người ta sẽ phát triển một ý thức to lớn hơn về trách nhiệm. Nhưng quá trình hợp nhất và phát triển của bản ngã địch thực đòi hỏi phải thoả mãn các nhu cầu của con người. Khi thế giới xã hội mà con người phát triển trong đó khuyến khích tự chủ - khi nó đặt ra những thử thách tối ưu cùng cơ hội lựa chọn và tự bắt đầu - thì bản ngã đích thực sẽ phát triển sum suê. Khi thế giới xã hội chấp nhận con người vì chính bản chất của họ, trao đi yêu thương khi họ khám phá môi trường bên trong và bên ngoài, thì bản ngã đích thực sẽ phát triển một cách tối ưu. Nhưng khi những nhu cầu này không được thỏa mãn, quá trình ấy sẽ bị cản trở. Sự phát triển của bản ngã đích thực đòi hỏi phải khuyến khích tự chủ - nó đòi hỏi sự chấp nhận và tình yêu không điều kiện. Một trong những cách tiếp cận về kỷ luật thường thấy nhất trong xã hội hiện đại liên quan đến việc tạo ra điều khoản về tình yêu, sự chấp nhận và sự kính trọng - phụ thuộc vào hành xử của con người theo những cung cách nhất định. Cách tiếp cận triệt-tiêu-tình-yêu này chính là cơ sở cho một trong những khía cạnh bi kịch của cuộc sống ấy là trong nhiều hoàn cảnh, người ở địa vị bề trên khiến cho sự tự chủ và sự kết nối quay lưng lai với nhau. Điều này không có nghĩa là các nhu cầu đối kháng nhau về bản chất, mà chỉ có nghĩa là thế giới xã hội có thể lợi dụng tính chất dễ bị tổn thương của con người trước việc bị kiểm soát - trước việc bị cướp mất quyền tự chủ - và trước nhu cầu kết nối với người khác. Việc khiến cho yêu thương trở thành có điều kiện là một trong những cách mang tính kiểm soát mà chúng ta có thể dùng với trẻ em (cũng như người cùng địa vị), bởi vì nó buộc họ từ bỏ quyền tự chủ để giữ lại tình yêu hoặc phải "sống như một hòn đảo cô độc". Khi buộc phải mang lấy trách nhiệm làm cho con cái cư xử sao cho đúng đắn, cha mẹ sử dụng sự triệt tiêu tình yêu thương, và trong quá trình này nó không chỉ cản trở sự nội hóa những điều lệ mà quan trọng hơn, nó còn gây trở ngại cho sự phát triển của bản ngã đích thực. Việc trẻ em chấp nhận các giá trị, quy trình và quan niệm về bản thân chúng mà thế giới xã hội trao cho là chuyện hiển nhiên, nhưng khi những gì thế giới trao cho lại đi kèm với sự kiểm soát - khi việc nhận được yêu thương lại phụ thuộc vào việc chấp nhận các giá trị cũng như điều lệ của thế giới - trong tình huống lạc quan nhất, trẻ em sẽ chỉ nội nhập những thứ đó, nuốt tron thay vì hợp nhất chúng vào việc phát triển bản ngã. Chất liệu được nội nhập không phải là một phần của bản ngã đích thực hay đã được hợp nhất, mà thay vào đó là sự chịu dựng như những đòi hỏi cứng nhắc, những quan điểm và sự đánh giá vốn là cơ sở cho bản ngã giá tạo. Trong quyển The Drama of the Gifted Child (tạm dịch: Sự kịch tính của đứa con thiên tài), Alice Miller đã giải thích rằng bản ngả giá tạo phát triển khi trẻ em chấp nhận căn tính mà những người chăm sóc thích kiểm soát muốn chúng có. Trong khi nỗ lực làm cha mẹ hài lòng và nhận được tình yêu có điều kiện, trẻ em dẫn dẫn trực cảm rằng đó là những gì bản thân chúng muốn - những gì mà bọn trẻ hy vọng sẽ mang lại cho chúng tình yêu và tránh được sự quở trách của những bậc phụ huynh thích kiểm soát. Những thứ được nội nhập có thể là nhân tố thúc đấy mạnh mẽ, không ngừng thúc đẩy con người suy nghỉ, cảm nhận hay hành xử theo những cách cụ thể. Thế nhưng chúng cũng có vô vàn tác dụng phụ khác nhau minh chứng cho sự không thích nghi. Nội nhập có liên quan mật thiết với sự lo âu - con người sống trong nỗi sợ thất bại và sợ mất đi sự quý mến. Nó cũng đi kèm với một sự mâu thuẫn nội tâm dữ dội giữa những gì đã được nội hóa - mà chúng ta có thể bằng cách ẩn dụ coi đó là người kiểm soát, người luôn đòi hỏi, phỉnh phờ hay đánh giá - và cũng chính con người đó đang bị điều khiển và chỉ trích. Nội nhập là quá trình tạo điều kiện để bản ngã giả tạo xuất hiện - để một tập hợp các luật lệ và căn tính cứng nhắc xuất hiện - và là quá trình mà qua đó người ta có thể đánh mất sự kết nối với con người thật của họ. Việc sử dụng tình yêu và sự coi trọng có điều kiện như một phương tiện kiểm soát không chỉ thúc đẩy nội nhập mà nó còn gây ra hậu quá thậm chí đáng tiếc hơn khi nó dạy người ta coi trọng bản thân một cách có điều kiện. Cũng như họ từng phải đáp ứng với những yêu cầu từ bên ngoài để có được tình yêu và sự coi trọng của người khác thì lúc này họ cũng phải sống theo đúng những gì họ đã nội nhập để có được tình yêu và sự coi trọng từ chính bản thân. Sự ràng buộc với cái tôi là thuật ngữ mà các nhà tâm lý học dùng để chỉ quá trình cảm giác về giá trị của con người phụ thuộc vào những kết quả cụ thể. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một cách nhất quán rằng sự ràng buộc với cái tôi hủy hoại đông lực nội tại và khiến các đối tượng kể về áp lực, căng thẳng và lo lắng về cách thể hiện nhiều hơn. Sự ràng buộc với cái tôi phát triến khi người ta được người khác coi trọng một cách có điều kiện, vậy nên nó liên quan chặt chẽ với việc nội nhập các giá trị và điều lệ. Khi lòng tự trọng xoay quanh kết quả thực hiện, con người sẽ đấu tranh để duy trì vẻ bề ngoài. Họ tự gây áp lực cho bản thân mình để xuất hiện theo một cách nào đó trước người khác nhằm có thể cảm thấy ổn về bản thân. Dĩ nhiên, điều này làm giảm đi niềm say mê và nhiệt huyết. Thực tế, nó ủng hộ bản ngã giả tạo và hủy hoại sự phát triển của bản ngã đích thực. Khi bị ràng buộc với cái tôi, con người tập trung vào việc họ trông như thế nào trong mắt người khác nên họ cứ mãi phán xét cách bản thân thể hiện. Tóm lại, sự ràng buộc với cái tôi được hình thành trên một nhận thức hời hợt về bản ngã, và nó chống lại sự tự chủ. Để trở nên tự chủ - độc lập hơn, con người cần phải tách ra khỏi sự ràng buộc với cái tôi, họ phải dần dần từ bỏ chúng. Charlotte Selver' đã phát triển bài tập thực hành về nhận thức cảm giác. Nó là một cách tiếp cận cho phép các chức năng bên trong của một người, giúp người đó kết nối với con người thật sự của họ. Bà có rất nhiều học trò lỗi lạc - như các bác sĩ tâm thân học Erich Fromm, Fritz Perls và Clara Thompson - những người đã làm việc với bà để phát triển một nhận thức sâu hơn về sự bình yên bên trong và độ nhạy cảm cao hơn về những điều xung quanh họ. Charlotte nói thế này: "Nếu bạn dám béo lên, thì bạn có thể gầy đi", cứ cho phép bản thân thất bại và bạn sẽ có thể thành công hơn. Nhận ra cách mà những sự nội nhập và sự ràng buộc với cái tôi thúc đẩy thông qua quá trình tự đánh giá có điều kiện về bản thân đã chỉ ra một sự thật vô cùng quan trọng rằng thật ra có hai kiểu tự trọng. Chúng là tự trọng đích thực và tự trọng có điều kiện. Lòng tự trọng đích thực đại diện cho cảm giác ổn định và lành mạnh về bản thân, được xây dựng trên nền tảng vững chắc của việc tin vào giá trị của một người với tư cách con người. Nó đi kèm với một cái tôi đích thực phát triển mạnh, mà ở đó động lực nội tại được duy trì, những giới hạn và điều lệ từ bên ngoài được hợp nhất tốt, và quá trình cần thiết cho việc chỉnh đốn cảm xúc của một người được phát triển. Lòng tự trọng đích thực đó đi kèm với tự do và trách nhiệm. Tuy nhiên, tự trọng đích thực không có nghĩa là cho rằng bạn chẳng làm gì sai. Con người tự trọng đích thực ý thức được các hành vi đúng hay sai, bởi vì lòng tự trọng đích thực đi kèm với những giá trị và điều lệ đã hợp nhất. Những cá nhân như vậy đánh giá hành vi của họ, nhưng cám xúc về giá trị của họ với tư cách con người không trôi nỗi theo những đánh giá đó, còn có một kiểu tự trọng khác ít ổn định, ít chắc chắn hơn, dựa trên ý nghĩa nền tảng về giá trị. Nó hiện diện ở một vài hoàn cảnh nhưng biến mất ở những hoàn cảnh khác, khiến con người bị suy kiệt và tự giảm giá trị bản thân. Đây là lòng tự trọng có điều kiện, khi con người bị gây sức ép và kiểm soát để đạt được những kết quả đặc biệt, lòng tự trọng của họ thường phụ thuộc vào cách những thứ đó diễn. Người tự trọng đích thực có thể tôn trọng và chấp nhận điểm yếu của người khác hơn là phán xét và phản đối chúng. Mỗi quan hệ quan trọng nhất trong cuộc đời của nhiều người là một mới quan hệ ngang hàng đặc biệt, thường với một người bạn đời nhưng cũng có khi với một người bạn thân nhất. Đó là người để bạn hướng về, là người để bạn dựa vào và là người hỗ trợ. Họ là người sẽ lắng nghe bạn, là người hiểu bạn khi không ai khác hiểu bạn. Nhưng đó cũng là người bạn phải cho đi, là người bạn phải chu toàn, là người bạn phải lắng nghe và phải thấu hiểu. Mối quan hệ quan trong nhất của cuộc đời nhiều người chính là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Nó là mối quan hệ cho phép người ta thỏa mãn nhu cầu kết nối bằng cách phụ thuộc vào những người cũng phụ thuộc vào họ. Đặc tính của những mối quan hệ trưởng thành và mãn nguyện nhất chính là bản ngã đích thực của một người gắn kết được với bản ngã đích thực của một người khác. Mỗi người đều phụ thuộc vào người còn lại, nhưng mỗi người đều duy trì quyền tự chủ, sự hợp nhất, hay ý thức về bản ngã của mình. Chừng nào mỗi người còn ở trong mối quan hệ một cách tự chủ, với ý thức đúng đắn về sự lựa chọn, thì mối quan hệ đó còn lành mạnh, mỗi người sẽ có thể hồi đáp đối phương bằng bản ngã đích thực của mình, có thể ủng hộ và khí chất của người kia. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng quyền tự chủ của mỗi người là thứ cần thiết cho hạnh phúc lứa đôi. Những người tự chủ trong việc gắn kết với bạn đời của họ cho thấy mức độ mãn nguyện cao nhất trong mối quan hệ. Tuy nhiên, nhiều người tham gia cuộc nghiên cứu lại không hề tự chủ, mà thay vào đó là cảm thấy hoàn toàn bị kiểm soát. Những người này không cảm thấy tự do trong mối quan hệ ấy, họ gắn kết với bạn đời của mình vì nghĩa vụ. Trong những mối quan hệ kiểu này, bản ngã đích thực của hai người không gắn kết được với nhau. Những mỗi quan hệ trưởng thành có đặc trưng là sự tương tác cởi mở giữa hai cá nhân, không bị cản trở bởi sự ràng buộc với cái tôi, những đánh giá nội nhập hay sự tự phản kháng. Trong những mỗi quan hệ thân thiết, trưởng thành, mỗi bên đều tự chủ và mỗi bên đều ủng hộ quyền tự chủ của bên còn lại. Trong những mỗi quan hệ như vậy, mỗi bên đều có thể cho đi mà không mong nhận lại và không gán ghép nghĩa vụ gì cho bên kia. Sự cho đi xuất phát từ bản ngã đích thực, và do đó con người trải nghiệm việc muốn cho đi. Khi hai người đang gắn kết nhau một cách trưởng thành, mỗi người có thể hỏi người kia xem họ muốn hay cần những gì, với niềm tin tuyệt đối rằng đối phương sẽ nói "không" nếu không muốn cho đi. Trong những mối quan hệ trưởng thành này, con người tự do cho đi và tự đo từ chối cho đi, có một sự cân bằng giữa việc có được thứ mà người ta cân cho bản thân và cho người khác. Việc cho đi không phải trả giá bằng bản ngã của một người, thay vào đó nó phải được bản ngã tán thành hoàn toàn. Trong các mối quan hệ như thế, mỗi bên đều có thể biểu hiện cảm xúc của mình một cách tự do và có thể lắng nghe cảm xúc của người kia mà không cần đề phòng. Việc nhận ra cảm xúc rất quan trọng cho sự phát triển và hoạt động của bản ngã đích thực, và việc giao tiếp với chúng rất quan trọng cho mức độ thân thiết trong mỗi quan hệ. Nhưng khi con người "nắm giữ" được chúng, khi con người hiểu rằng những cảm xúc đó được tạo nên bới sự liên kết giữa các sự kiện với mong muốn, nhu cầu và kỳ vọng của riêng họ, họ sẽ có thể biểu hiện cảm xúc của mình theo hướng mang tính xây dựng chứ không bị cuốn vào sự công kích. Nó cũng cho phép con người nghĩ về cách có được những gì họ muốn hay cần mà không nhất thiết phải đòi hỏi đối phương thay đổi. Trong quyển sách cực kỳ nổi tiếng The Art of Loving (tạm dịch: Nghệ thuật yêu), Erich eFromm đã chỉ ra rằng yêu một người là công việc rất khó khăn. Điều thật sư khó khăn trong tình yêu chính là phải giải phóng bản thân bạn khỏi những nội nhập, sự cứng nhắc, đổ lỗi và tự xúc phạm bản thân, những thứ vốn ngăn cản khả năng kết nối một cách chân thành bằng bản ngã đích thực của ban. Điều gây khó khăn chính là phải đủ tự do về mặt tâm lý để tạo ra sự gắn kết chân thật. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Khi xã hội ra hiệu
- 24 Apr, 2024
Cách tiếp cận thứ nhất tin rằng con người thấm nhuần các khuynh hướng và năng lượng để trưởng thành, phát triển phù hợp hơn với nhu cầu tâm lý của họ. Cách tiếp cận thứ hai xem nội hóa là một quá trình tiên phong mà trong đó một đứa trẻ đang phát triển biến sự thúc đẩy ngoài tạo thành sự thúc đẩy nội tại. Có thể thoạt đầu điều này chẳng là gì đối với bạn ngoài một vấn đề về ngữ nghĩa, như một kiểu biệt ngữ xuôi tai vậy. Nhưng thực ra không chỉ có thế, từ quan điểm tâm lý học nó có nhiều ngữ nghĩa hơn thế bởi vì nó nói lên rất nhiều điều về bản chất sự phát triển của con người, và từ quan điểm thực hành, nó cũng có nhiều ý nghĩa hơn thế bởi vì nó dẫn đến những cách chuyển dịch rất khác nhau để thúc đẩy trách nhiệm của con người, sinh viên, nhân viên, bệnh nhân và công dân. Nội hóa một điều lệ và giá trị ẩn bên dưới nó là minh chứng điển hình về thiên hướng chung của con người khi hợp nhất các khía cạnh trong thế giới của họ thành mục sự tượng trưng ngày càng mở rộng và thống nhất về việc họ là ai, nó là một ví dụ về điều mà chúng ta gọi là sự hợp nhất của sinh vật. Trong ví dụ "đi đổ rác", giá trị ẩn bên dưới về việc chia sẻ trách nhiệm để làm cho cuộc sống gia đình vận hành trôi chảy, và sự hợp nhất là quá trình mà qua đó, giá trị này trở thành một phần của bản ngã đang phát triển của trẻ em. Nhưng quan trọng là ta nhận ra rằng có hai kiểu nội hoá hoàn toàn khác nhau, vậy nên đơn thuần nội hoá điều lệ (về hành vi) không đảm bảo được việc tự chỉnh đốn một cách xác thực và tự chủ. Hai dạng nội hoá là tiếp nhận hay nội nhập mà Fritz Perls ví như là nuốt trọng một luật lệ hơn là lĩnh hội nữa, và sự hợp nhất liên quan đến "lĩnh hội" và là hình thức nội hoá tối ưu. Giữ một nguyên tắc cứng nhắc đã luôn đối xử thô bạo với bạn, những tuyên bố, đòi hỏi, cách xử lý, vận động phù hợp với luật lệ cứng nhắc đó, có nghĩa là lúc này chỉ được nội nhập (tiếp nhận), nên nó không tạo nên một hành động thực sự chủ động. Hoạt động tự chủ đòi hỏi rằng một điều lệ hay quy tắc được nội hóa phải được chấp nhận là của bản thân bạn, điều lệ đó phải trở thành một phần trong bạn. Nó phải được hợp nhất với bản ngã của bạn. Thông qua quá trình hợp nhất, có người mới sẵn sàng đảm đương trách nhiệm trong hoạt động quan trọng nhưng không thú vị, các hoạt động không được thúc đẩy từ bên trong. Nhu cầu tự chủ của con người, nhu cầu trở thành một tác nhân chịu trách nhiệm trong việc quản lý bản thân họ, cung cấp năng lượng cho quá trình hợp nhất (hơn là chỉ nội nhập) một điều lệ. Do đó, dù nhu cầu có được sự thân thuộc và năng lực có thể thúc đẩy nội nhập, nhưng chính nhu cầu có được sự tự chủ mới đấu tranh trong quá trình hợp nhất một giá trị hay quá trình tuân thủ điều lệ vào bản ngã của con người. Con người thường tiếp thu những giá trị và luật lệ của các nhóm mà họ thuộc về, rồi hành động theo đó. Khi quá trình này diễn ra không hoàn chỉnh, nó dẫn đến những sự nội nhập, tức là những sự nổi hóa dưới dạng "nên" và "phải". Những sự nội nhập là giọng nói trong đầu mỗi người, có thể nói rằng nó đến từ bên ngoài và phát ra một lần, đôi lúc giống như những trung sĩ kỷ luật đầy ác ý và đôi lúc giống như những bà dì đầy yêu thương và tốt bụng (nhưng dù sao cũng có tính chất xâm phạm). Khi những sự nội hóa trở thành hợp nhất, khi chúng trở thành những khía cạnh thật sự trong bản chất của con người, chúng sẽ cho phép nhiều hành động và tương tác có tính xác thực hơn. Chúng ta vẫn thường xuyên nhìn bọn trẻ và thấy chúng đang vâng lời làm bài tập ở trường, việc vặt ở nhà hay bất cứ việc gì khác đến thế nào. Chúng ta có thể tự nhủ rằng: "À, chúng đang rất có động lực" và chúng ta nghĩ mọi chuyện đều ổn. Thế nhưng có lẽ chúng ta nên nhìn ở một góc độ khác và tự hỏi mình xem liệu chúng ta có đang thật sự tự nguyện làm việc đó hay không, liệu chúng ta có đang làm điều đó khi đã ý thức được về sự chấp thuận cách nhưng không. Nếu đúng là vậy thì có thể mọi thứ đều ổn. Nhưng thay vì nội nhập, Chúng có thể làm việc chăm chỉ hơn bởi vì nghĩ rằng mình nên làm và cho là mình sẽ được công nhận khi làm thế. Nếu vậy, những đứa trẻ này có thể đang bị tổn thương sâu sắc bên trong. Áp lực từ bên trong về việc phải thể hiện, ban đầu thì trông có vẻ rất hay, nhưng có thể tạo ra một cái giá đắt. Việc những học sinh vâng lời đòi hỏi sự chú ý có thể coi là bi kịch, bởi vì những cảm giác mà chúng có thể đăng chôn sâu trong mình, chẳng hạn cảm giác không xứng đáng, lại rất đáng được quan tâm. Những cảm giác này có thể dễ dàng sinh ra từ việc nội hóa một phần, từng sự nội nhập những luật lệ về sự đánh giá, họ thường cảm thấy mình không thể sống đúng với những điều đó cho dù cố gắng thế nào đi nữa. Hãy nghĩ đến những cô bé vị thành niên vì không thể nội hoá giá trị của nền giáo dục chính quy và tầm quan trọng của việc được một phương tiện hỗ trợ bản thân nên đã mang thai chỉ vì muốn có thứ gì đó để quan tâm. Khao khát trở thành mẹ của các em thật tuyệt vời, những việc các em trở thành mẹ trước khi có thể tự lo cho bản thân và con cái mình thì không. Sống đúng với bản thân thường bị đánh đồng với tính vị kỷ khi chỉ làm những việc của riêng mình, chân thật thường bị hiểu sai thành sự bào chữa cho thói vô trách nhiệm và bị công kích bởi những người hiểu nó theo cách đó. Sự ích kỷ, vị kỷ khi chỉ làm những việc của riêng mình đúng thật là vô trách nhiệm và rõ ràng có thể mang lại những hậu quả tiêu cực. Nhưng những hành vi đó không chân thật, chúng không thể hiện sự tự chủ của con người, cũng không phải là minh chứng cho việc được là chính mình. bất kỳ đứa trẻ nào cũng có thể đẩy cha mẹ chúng đến giới hạn, đặc biệt là sức mạnh tinh thần của họ đang ở mức thấp. Khi mệt mỏi, căng thẳng vì công việc, hay bị đè nặng bởi những công việc chưa hoàn thành, họ rất dễ thành ra buông thả, có thể đòi hỏi, khắc khe và ngược đãi nếu: con, hay học sinh, nhưng viên, không hành động đúng ý họ. Tất cả mọi người đều có thể bị tổn thương vì điều này, nhưng quan trọng là người ta không tự lừa dối bản thân, nghĩ rằng họ đang đặt ra những giới hạn trong đó họ thật ra đang nổi nóng. Con người được quyền căng thẳng và mâu thuẫn, nhưng nếu họ nhận ra bản chất của sự bực dọc này, nếu họ thu nhận chúng, thì con cái (học sinh hoặc nhân viên) của họ sẽ ít có khả năng phải trả giá cho những sự bực dọc ấy. Khi nhận ra những mâu thuẫn và áp lực bên trong của mình, con người ở vị thế bề trên sẽ có thể tạo điều kiện cho sự dàn xếp hiệu quả giữa các cá nhân họ giảng dạy, chăm sóc, hãy quản lý, và cho xã hội đang ra tín hiệu với họ. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Sức mạnh bên trong của sự phát triển
- 18 Apr, 2024
Tâm lý học có lịch sử hơi giống với một bệnh nhân mắc chứng đa nhân cách. Nó có hai căn tính, khác nhau hoàn toàn, mỗi căn tính có phạm vi nghiên cứu và tầm ảnh hưởng riêng. Cái thứ nhất nổi bật như sự nghiên cứu về những quá trình chuyển ra bên trong, thường khó quan sát trực tiếp. Cái còn lại chỉ có mục đích tập trung và những hành vi khác biệt. Cái thứ nhất, truyền thống phân tâm học khởi đầu với sự nghiệp mang tính cách mạng của Sigmund Freud, được xây dựng dựa trên niềm tin rằng lý do cho những hành động cảm nhận của con người nằm sâu trong bản thân họ. Do đó, chỉ có thể thúc đẩy sự thay đổi khi con người thăm dò chiều sâu tinh thần của họ và đưa những động lực bên trong thường không ý thức được vào trong nhận thức. Cái thứ hai, truyền thống thực nghiệm, khởi đầu là chủ nghĩa hành vi, cho rằng nguyên nhân của hành vi con người là những tác nhân cũng cố mà họ nhận được, vì thế nên cuộc đời của một người có thể bị biến đổi vô cùng mạnh mẽ nhờ sự chỉnh đốn nghiêm ngặt trong việc quản lý các nhân tố. Qua nhiều thập niên, truyền thống thực nghiệm cũng đã tiến hóa. Nhiều nhà lý thuyết giờ đây tập trung vào suy nghĩ của cá nhân hơn chỉ chú trọng đến các hành vi có thể quan sát được và tác nhân cũng cố của môi trường. Các hành vi vì vậy được giải thích trên khía cạnh suy nghĩ của con người về tác nhân cũng cố, những kỳ vọng và cách diễn giải của họ, hơn là chỉ những mô tả khách quan về bản thân các tác nhân cũng cố. Do đó, nhiều nhà tâm lý học thực nghiệm hiện đại được gọi là nhà lý thuyết nhận thức, đã khoáy động phía bên trong con người để tìm ra các nguyên nhân của hành vi, nhưng phần lớn họ chỉ dừng ở mức độ suy nghĩ của con người thay vì đi sâu hơn vào động lực. Hai căn tính khác biệt một cách hấp dẫn của tâm lý học có hai hướng tiếp cận riêng biệt để khám phá sự thật trong lĩnh vực tâm lý. Cách tiếp cận tâm động học (phychodynamic) đặt cơ sở lý thuyết trên những kinh nghiệm lâm sàng, trong khi cách tiếp cận thực nghiệm sử dụng những phân tích thống kê dữ liệu thu được từ các thí nghiệm khoa học. Đương nhiên, mỗi truyền thống đều nhận thức rõ về truyền thống kìa, nhưng thái độ của họ đối với nhau lại dao động từ sự thờ ờ ôn hòa đến khinh thường mãnh liệt. Hầu như không có nhà tâm lý học nào bao quát được hết những đóng góp của môi trường tiếp cận, để hướng đến việc thực hiện một nghiên cứu khoa học về động lực tâm lý, Nhưng khái niệm động lực nội tại có vẻ như không thể truyền đạt bằng các ý niệm cơ học. Động lực nội tại chỉ là một khía cạnh của tập hợp các hiện tượng rộng lớn mà con người thật sự muốn khám phá, và những hiện tượng này chắc chắn sẽ cần một điểm khởi đầu nhân văn hơn. Những gì cần thiết là một chủ nghĩa nhân văn thực nghiệm. Một góc nhìn rất khác biệt, nhưng theo ý nghĩa chức năng lại khá tương đồng đã được nhà xã hội học Talcott Parsons trình bày. Ông miêu tả sự ra đời của mỗi đứa trẻ là "cuộc xâm lược của một kẻ mang dã". Ông đồng ý là con người đang sống nhưng không phải theo một nghĩa có tính xây dựng, họ tuy sống nhưng lại là kẻ mang dã cần được thuần hóa. Quan điểm "trẻ sơ sinh là người mang rợ" và tư tưởng quan điểm "con người là cỗ máy thụ động" ở chỗ cả hai đều cho rằng sự phát triển sinh ra từ việc kiểm soát hành vi của trẻ em. Cả hai đều quả quyết rằng xã hội phải định hình con người, cả hai đều đề xuất rằng những tác nhân xã hội hóa cần phải được tạo ra bản ngã cho một đứa trẻ. Nếu con người không phải là những cỗ máy chờ được lập trình, hay những kẻ mang dã chờ được thuần hóa, vậy thì họ là gì? Họ là những sinh vật khám phá, phát triển, đương đầu với thách thức theo bản năng, không phải vì họ được lập trình để làm vậy, không phải vì họ bị ép buộc phải là vậy, mà vì điều đó nằm trong bản chất của họ. Sự phát triển khi nhìn từ quan điểm này, như Piaget và một vài nhà tâm lý học tiền phòng khác (Heinz Werner) đã làm thực sự là một vấn đề khác biệt. Nó trở thành vấn đề mang tính xây dựng hơn, con người hơn. Sự phát triển không phải là thứ gì đó mà thế giới xã hội cần thực hiện cho một đứa trẻ, nhưng hơn thế, nó là thứ mà đứa trẻ chủ động làm, với sự hỗ trợ và nuôi dưỡng của thế giới xã hội. Bên trong con người có xu hướng căn bản hướng đến sự cố kết và toàn vẹn hơn trong tổ chức thế giới nội tâm của họ. Nó có nghĩa là bản chất sự phát triển của con người vốn có xu hướng vận động hướng tới sự nhất quán và hài hòa to lớn hơn ở bên trong. Khẳng định sự hợp nhất là đặc điểm trung tâm của phát triển có nhiều phân nhánh khác nhau. Nó bao gồm ý tưởng rằng con người vốn dĩ chủ động và có khuynh hướng lợi dụng môi trường của họ để gây tác động, đồng thời lưu trong quá trình học hỏi và trưởng thành. Đó đơn giản là một cách khác để tuyên bố rằng con người được thúc đẩy từ bên trong, nhưng trong nguyên tắc hợp nhất sinh vật còn có một ý tưởng trong bản thân sự sống, đó là khuynh hướng tiến tới một hoàn cảnh phức tạp hơn nhưng có tổ chức. Sự phát triển của con người là một quá trình mà trong đó các sinh vật liên tục xây dựng và hoàn thiện cảm thức bên trong về bản thân mình và về thế giới của mình, để phục vụ cho sự cố kết to lớn hơn. Sự thôi thúc phát triển một cảm thức học nhất về cái tôi, do đó, là một đặc tính trung tâm về việc chúng ta là ai với tư cách là những cá nhân, và Lan hoạt động, cả thể chất lẫn tinh thần, cần thiết cho một quỹ đạo phát triển bản năng này được thúc đẩy từ bên trong. Tại sao quá nhiều trẻ em trong các trường học của chúng ta có vẻ đang học hành một cách uể oải và thiếu động lực? Tại sao một số trẻ có vẻ như bị thúc đẩy bởi nỗi sợ phải làm bài kiểm tra hay khao khát tuyệt vọng muốn tránh bị chê bai? Và tại sao một số em khác lại cư xử như những kẻ thô lỗ, hỗn xược với giáo viên và bày trò phá hoại trong trường? Đương nhiên, đó chính là những câu hỏi mà nghiên cũ đã hướng đến, và kết quả cho thấy rằng loài sinh vật bẩm sinh có xu hướng phát triển và đấu tranh, tức là người, thực ra dễ bị kiểm soát và cảm thấy mình không có sức ảnh hưởng. Ngay cả trong những hoàn cảnh mà một người thấy tương đối tốt, như dựa vào những phần thưởng để thúc đẩy hoạt động chẳng hạn, thì động lực tự nhiên hướng đến sự trưởng thành cũng có thể suy yếu một cách nghiêm trọng. Khi điều đó xảy ra, con người bắt đầu trông giống một bộ máy thụ động, như nhiều nhà tâm lý học thực nghiệm đã chỉ ra, hoặc giống những kẻ mang dã mà Talcott Parsons đề cập Có hai kiểu bối cảnh chính có thể biến một cuộc sống sinh động thành một cuộc sống đầy bất mãn. Kiểu thứ nhất, những bối cảnh xã hội cực kỳ mâu thuẫn và hỗn loạn, khiến người ta không thể biết được xã hội kỳ vọng gì ở họ và làm sao hành động một cách chuẩn mực để đạt được kết quả bên trong lẫn bên ngoài, sẽ gây cản trở cho tinh thần con người nói chung. Kiểu thứ hai và kém rõ ràng hơn là trọng tâm của cuốn sách này, cụ thể là các môi trường mang tính kiểm soát đòi hỏi, gây áp lực, kích động, phỉnh phờ Con người để hành động, suy nghĩ, hãy cảm nhận theo những cách đặc thù. Đây là những môi trường thúc đẩy sự tự động hóa, những người suy luận theo kiểu công cụ tuân thủ các mệnh lệnh, thì theo nghĩa nào đó chị sống nửa chừng, nhưng đôi lúc họ lại cảm thấy thôi thúc bức tuần sự kiểm soát. Nếu con người liên tục bị đối xử như thể họ là những cỗ máy thụ động hay những kẻ mang dã cần được kiểm soát, họ sẽ bắt đầu hành động theo kiểu đó ngày càng nhiều hơn. Khi họ bị kiểm soát, họ có khả năng ngày càng hành động như thể họ được cần kiểm soát. Để có được động lực nội tại, con người cần phải hiểu được rằng bản thân mình có đủ năng lực và sự tự chủ, họ cần phải cảm thấy rằng họ có sức ảnh hưởng và khả năng tự quyết. Còn ý kiến của người khác không ảnh hưởng gì cả. Quan điểm của con người về có năng lực (hay không có năng lực) thường được liên kết khá chặt chẽ với phong độ thực tế của họ là một hoạt động cụ thể nào đó. Khi con người thành công không ở một hoạt động, nghiên cứu cho thấy rằng nhiều khả năng họ sẽ tự nhận thấy bản thân có năng lực hơn. Điều tương tự cũng xảy ra khi họ thắng một cuộc thi và khi họ nhận được phản hồi tích cực. Như vậy, nhận thức của họ không phải lúc nào cũng trùng khớp với dữ kiện khách quan. Yếu tố then chốt để xác định liệu của con người có đang sống một cách tự chủ hay không và liệu họ có cảm thấy tận sâu bên trong rằng những hành động của họ là lựa chọn của chính họ hay không. Nó là một trạng thái tâm lý cảm thấy tự do và nó tùy thuộc vào góc nhìn của người hành xử, có thể nói là vậy. Nhưng nó đòi hỏi con người phải có vẻ ngoài chân thành. Người ta hoàn toàn có thể cho biết là mình cảm thấy tự do, và thậm chí cũng có chút tin tưởng vào điều đó, trong khi đang tự lừa dối chính mình. Tất nhiên, trong trường hợp đó thì con người sẽ không bộc lộ những phẩm chất thử kết hợp với sự tự chủ được nhận thức. bởi vì vấn đề hành động tự chủ, và do đó cả quá trình phát triển hợp nhất, có liên quan đến trải nghiệm riêng của con người và hành vi của họ, nên các vấn đề này nghe có vẻ bí hiểm và khó nắm bắt. Nhưng chắc chắn sự thật là chúng ta đều có thể cảm nhận bên trong bản thân mình, ít nhất là bằng trực giác nếu tự chủ. Chúng ta có thể biết nếu nó khiến ta quan tâm, khi nào những hành động của chúng ta là do ta tự khởi phát hoặc tự tán thành, chúng ta có thể biết khi nào chúng ta quan tâm, dấn thân vào sống. Có một cảm giác hài hòa, một cảm giác hợp nhất về cảm xúc với những khía cạnh khác nhau của bản ngã hoạt động trong sự cộng tác đầy mãn nguyện, ngay cả khi bản ngã được đề cập không đồng bộ với những kỳ vọng của xã hội. Vốn dĩ, sẽ có lắm lúc con người không sẵn sàng trung thực với chính mình, khi họ sa lầy và tự lừa dối mình và cứ nhất định rằng họ thật sự muốn làm điều đó mà thật ra họ đang làm vì nghĩa vụ hay sợ hãi. Nhưng ngay cả khi đó, họ vẫn có thể lờ mờ nhận ra rằng có gì đó không hoàn toàn đúng, sự hoài nghi đó có thể cho họ một tín hiệu để nhìn sâu hơn. Họ sẽ thấy được sự căng thẳng bên trong và nhận ra họ đang cố chấp như thế nào. Họ sẽ nghi ngờ bởi vì họ biết khi họ phản ứng quá lố thì có nghĩa là gì. Con người không chỉ cần có sức ảnh hưởng và tự do, mà họ còn cần cảm thấy được kết nối với người khác trong khi có ích và tự chủ. Đó là nhu cầu thân thuộc, nhu cầu yêu và được yêu, quan tâm và được quan tâm. Người ta thường miêu tả rằng nhu cầu có được sự tự chủ và thân thuộc là hoàn toàn trái ngược nhau. Họ nói rằng, bạn phải từ bỏ sự tự chủ để gắn kết với những người khác, nhưng đó chỉ là một đánh giá sai lầm về loài người, một phần của sự nhầm lẫn này bắt nguồn từ việc đánh đồng tự chủ với độc lập, thực ra là những khái niệm rất khác nhau. Độc lập nghĩa là làm vì bản thân bạn, là không phụ thuộc vào người khác để được nuôi dưỡng cá nhân hãy ủng hộ về mặt cảm xúc. Tự chủ, ngược lại, nghĩa là hành động một cách tự do, nhận thức rõ về sự tự do ý chí và lựa chọn. Do đó, một người có thể độc lập và tự chủ tức là tự do không cần dựa dẫm vào người khác, hoặc độc lập phải bị kiểm soát tức là cảm thấy bị ép buộc không được dựa dẫm vào những người khác Trái ngược với độc lập chính là phụ thuộc, nghĩa là dựa vào người khác để có sự hỗ trợ liên cá nhân. Con người thường có khuynh hướng hình thành mối quan hệ tình cảm với người khác và rồi cả hai đều phụ thuộc và lo liệu cho nhau. Sự phụ thuộc được thúc đẩy bởi nhu cầu có được sự thân thuộc, nó được bền chặt bằng tình yêu, và việc cảm thấy độc lập một cách có tự chủ là hiển nhiên hữu ích và lành mạnh. giống như độc lập có thể cùng tồn tại với tự chủ hay kiểm soát, sự phụ thuộc cũng có thể cùng tồn tại với một trong hai điều bẩy. Sự phụ thuộc tự chủ thực ra là một trạng thái hoàn toàn tự nhiên. Sự phụ thuộc ép buộc hay kiểm soát, phụ thuộc mà không thật sự được lựa chọn, là một trường hợp thích nghi kém. Sự độc lập thường bị đánh giá sai trong xã hội của chúng ta, một xã hội có xu hướng tôn sùng sự độc lập, những con người cần cả sự tự chủ và sự thân thuộc, nên sự kết hợp của cả hai, thứ dẫn đến sự phụ thuộc tối ưu nhất, sẽ tạo ra được những yếu tố tương quan tích cực. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Động lực nội tại và ngoại tại
- 01 Apr, 2024
Sự kiểm soát ngoại tại, luôn luôn khiến con người chỉ tập trung vào kết quả, dẫn đến các biện pháp đi ngang về tắt, những chiêu trò có thể thật nông cạn hoặc tồi tệ. Có một khía cạnh của động lực nội tại, khiến nó dễ phân biệt với sự kiểm soát ngoại tại. Nó là một khía cạnh gần như thuộc về tinh thần, nó liên quan đến chính bản thân sự sống, nó là sức sống, là sự hiến dân, là sự siêu việt. Đó là điều mà con người trải qua trong những thời điểm, mà Robert Henri gọi là "Cao hơn khoảnh khắc tồn tại thông thường". Là cách chứng minh cho chính những cảm nhận từ bên trong: "Ngửi những đóa hoa hồng, mê mệt tìm cách ghép những mảnh ghép hình với nhau, ngắm ánh nắng nhảy nhót giữa những đám mây, cảm nhận sự phấn khích khi lên tới đỉnh núi". Đó là những trải nghiệm không cần đem lại thêm bất cứ lợi ích nào khác, để chứng minh giá trị của chúng. Và người ta có thể đi đến chỗ lập luận rằng: "sống mà không có những trải nghiệm như vậy gần như không phải sống". Nhưng xã hội hiện đại không quan tâm đến chuyện đó lắm, xã hội hiện đại có những gì mà triết gia Charles Taylor gần đấy gọi là nỗi muộn phiền của "lý trí công cụ". Mọi thứ đều được định giá trên phương diện lợi nhuận ròng , tỷ lệ chi phí trên lợi ích, có thể nói là vậy. Buồn thay, ngay cả những thứ nên đánh giá bằng những tiêu chuẩn khác, như các mối quan hệ cá nhân, dường như cũng đều phải chịu sự dò xét tăm tối cũng lý trí công cụ. Người ta sẽ nói "cảm thấy sống động, hứng thú và say mê một hoạt động, đắm mình vào trạng thái dòng chảy" thì nghe cũng hay đấy, nhưng nó có ích gì cho bạn?". Những người này muốn kết quả, họ muốn những bức tranh đáng chú ý, chứ không quan tâm liệu người họa sĩ có trải nghiệm trạng thái hoạt động đỉnh cao, khi vẽ ra chúng hay không. Họ muốn điểm thi cao chứ không thật sự quan tâm rằng, học sinh có cảm thấy vui vẻ hay hứng thú khi đi học hay không. Họ muốn lợi nhuận chứ không muốn chú ý nhiều đến sự phát triển cá nhân hay nghề nghiệp của nhân viên. Cũng cần phải chú trọng đến kết quả của động lực, và mặc dù động lực nội tại là một cái kết đáng ao ước, theo đúng nghĩa của nó, nhưng chúng ta vẫn nên dành nhiều tâm sức, để khám phá những hệ quả cụ thể khi bản thân có động lực nội tại, so với khi phải chịu sự kiểm soát từ bên ngoài. Trong giáo dục, điểm số đôi khi còn kèm theo những thứ khác, những ngôi sao học tập, hay bảng vàng của hiệu trưởng, là phương tiện cơ bản của sự kiểm soát ngoại tại. Người ta cho rằng học sinh sẽ có những động lực học hành để kiếm được điểm cao, khi có người học để chờ đợi được đánh giá, họ sẽ tập trung vào việc ghi nhớ các sự kiện, nhưng lại không xử lý thông tin đầy đủ, vì vậy mà họ không nắm bắt được tốt các khái niệm. Xét bề nổi, điều này cho thấy rằng người ta nên tạo ra các kiểu bối cảnh học tập phù hợp, với kiểu học tập mà họ hy vọng sẽ nuôi dưỡng, để làm rõ giữa sự học vẹt hay sự học để hiểu biết. việc học sẽ tốt hơn khi nó được thúc đẩy bởi động lực nội tại, thay vì sự kiểm soát từ bên ngoài. Những nghiên cứu khác đã tiết lộ rằng, con người giải quyết vấn đề tệ hơn khi họ cố gắng, vì một phần thưởng ngoại tại hơn là khi được thúc đẩy từ bên trong. Kiểm soát không những gây xói mòn động lực nội tại, và sự chú tâm vào các hoạt động, mà rõ ràng chúng còn gây ra những ảnh hưởng, bất lợi cho hiệu suất của bất kỳ công việc nào đòi hỏi sự sáng tạo, khả năng nhận biết sâu sắc hay khả năng giải quyết vấn đề linh hoạt. Trả công trên hiệu suất làm việc là một khái niệm được tôn sùng trong giới quản lý. Nó là phương pháp "cây gậy và củ cà rốt" kinh điển. Hình thức trả lương theo sản phẩm, kỹ thuật tạo động lực trọng tâm trong phương pháp quản lý khoa học của Frederick Winslow Taylor phát triển vào đầu thế kỷ 20, là ví dụ hoàn hảo cho phương pháp trả lương theo hiệu suất làm việc. Nó bao gồm việc chi trả cho nhân viên với mỗi phần việc cụ thể mà họ làm. Yếu tố cơ bản đằng sau tất cả những khích lệ tạo ra động lực này chính là "đồng tiền vạn năng". Người ta muốn có tiền, vậy nên nếu bạn xếp đặt hoàn cảnh một cách chính xác, bạn có thể khiến họ làm những gì bạn muốn. Tiền là phương tiện trao đổi trong tất cả các hệ thống kinh tế hiện đại, vậy nên việc khen thưởng bằng tiền không có gì lạ lùng. Thế nhưng có những cách thưởng hay và cũng có những cách thưởng dở. Phần thưởng còn được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác ngoài việc giữ chân nhân viên, thì nó chỉ có thể là công nhận hoặc biểu thị một công việc đã được hoàn thành tốt. Phần thưởng có thể được sử dụng như một cách để thể hiện sự cảm kích, nhưng chúng càng được sử dụng như những yếu tố thúc đẩy, như kế hoạch khen thưởng trong một nhà xuất bản, thì sẽ càng có khả năng gây tác động tiêu cực. Một điểm quan trọng nữa trong việc trao thưởng là chúng cần phải hợp tình hợp lý, theo một nghĩa quan trọng nào đó. Nói cách khác, con người cần cảm nhận được rằng phần thưởng của họ tương xứng, với những gì họ đóng góp và công bằng, như những gì mọi người xung quanh họ có được. Khen thưởng công bằng, có nghĩa là những gửi cống hiến cho tổ chức nhiều hơn sẽ được nhiều hơn.
- Blog
- Book
- Sharing
Nhu cầu tự chủ cá nhân
- 27 Mar, 2024
Tại sao động lực nội tại, sức sống, sự tự nguyện, tính chân thật và hiếu kỳ vốn nằm trong bản chất của con người. Lại có thể bị những phần thưởng bên ngoài làm suy yếu? Nhà tâm lý học nhân cách Henry Murray, đã giúp hoàn thiện bức tranh khái niệm này. Murray cho rằng, con người có những nhu cầu về tâm trí, cũng giống như nhu cầu về thể xác. Có lẽ có một nhu cầu bẩm sinh, hay nội tại muốn cảm nhận được sự tự chủ cá nhân, hay quyền tự quyết, cảm nhận được điều mà deCharms gọi là nhân quả cá nhân. Điều đó có nghĩa là, có người cần cảm thấy rằng, hành vi của họ thật sự do chính họ lựa chọn, hơn là do những nguyên nhân bên ngoài, rằng nơi khởi đầu hành vi của họ nằm trong chính bản thân họ, hơn là sự kiểm soát bên ngoài. Đây là một quan điểm tương đối mơ hồ, như ý nghĩa của nó lại rất sâu sắc. Ẩn ý trong nhu cầu cảm nhận, được sự tự chủ của con người, chính là việc không thoải mãn được nhu cầu đó. Cũng giống như khi không giải quyết được nhu cầu đói khát, có thể làm suy giảm hạnh phúc cùng hàng loạt hệ quả không thể giải thích. Một số nhà nghiên cứu khác như Mark Lepper, và các cộng sự của ông tại Đại học Stanford, đã thêm vào danh sách các sự kiện mang lại hệ quả tiêu cực tương tự, những kỳ hạn, mục tiêu bị áp đặt, sự giám sát và đánh giá đều được xem là những yếu tố hủy hoại động lực nội tại. Ví dụ: Việc khuyến khích nhân viên cạnh tranh với nhau, để xem ai bán được nhiều nhất, hay ai có các bạn báo cáo dịch vụ khách hàng hay nhất, là một cách thức tạo động lực điển hình trong nền văn hóa chúng ta. Chắc chắn không thể sai, khi nói rằng sự cạnh tranh ít chiều tạo ra sức mạnh thúc đẩy, nhưng nó liên quan thế nào với những khát khao khó thấy hơn, khi các cá nhân muốn tự thúc đẩy bản thân, và có được cảm giác tự chủ? Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng, những đối tượng thi thố thể hiện ít động lực nội tại sau cuộc thi hơn, những người chỉ đơn giản được yêu cầu làm hết sức có thể. Trải nghiệm cạnh tranh đã làm xói mòn động lực nội tại, dành cho hoạt động thú vị này. Rõ ràng, họ cảm thấy bị cuộc thi gây áp lực, và điều khiển, mặc dù họ dành chiến thắng, và dường như điều đó đã làm vơi đi mong muốn được giải đố, chỉ vì niềm vui mà nó mang lại. Có vẻ như, nếu việc điều khiển con người, tức là ép buộc họ cư xử theo một cách cụ thể nào đó, khiến họ bị cảm giác tự quyết, thì việc cho họ lựa chọn cách cư xử hẳn sẽ làm tăng cảm giác đó. Một lần nữa, sự đối nghịch giữa tự chủ và kiểm soát, với những sắc thái của nó, chính là trọng tâm của vấn đề. Người được yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, nhưng được tự do lên tiếng về cách thực hiện nó, sẽ toàn tâm toàn ý với hoạt động, họ thích nó hơn là những người không được đối xử như những cá nhân độc lập. Người ta cứ nói rằng, con người cần được kiểm soát nhiều hơn, rằng họ cần được bảo cho biết phải làm gì và chịu trách nhiệm làm những việc đó. Nhưng chẳng có gì, trong những cuộc thí nghiệm này cho thấy quan điểm đó là tình trạng điển hình của cuộc sống. Đương nhiên, việc đặt ra giới hạn rất là quan trọng, như chúng ta sẽ thấy, nhưng quá coi trọng sự kiểm soát và kỉ luật cũng không đúng đắn. Trao quyền lựa chọn, theo đúng nghĩa rộng của thuật ngữ này, là khí cạnh trung tâm trong việc ủng hộ quyền tự chủ của một người. Chính vì vậy, những người ở vị thế có uy quyền, cần phải bắt đầu cân nhắc về cách trao đi nhiều quyền lựa chọn hơn. Ví dụ: ngay cả trong lớp học, những văn phòng tất bật, hay những phòng khám đầy phiền nhiễu cũng vẫn có nhiều cách và cách nào càng sáng tạo, thì khả năng người ta tìm ra sự tự nguyện sẽ càng cao. Điều cốt yếu cũng một lựa chọn có ý nghĩa là nó sinh ra sự tự nguyện. Nếu người treo thưởng, xem phần thưởng đơn giản là một sự công nhận, như một chỉ báo của thành tựu, thì có khả năng người tiếp nhận sẽ không cảm thấy đó là sự kiểm soát. Ý định thực sự của con người trong việc trao thưởng, có thể được truyền tải bằng phong cách, và những lời lẽ mà họ thể hiện trong khi trao thưởng đó. Một là kiểm soát, truyền đạt bằng những từ như: "nên", và "phải", cách còn lại là không kiểm soát bình đẳng hơn. Những người tán thành việc sử dụng phần thưởng để thúc đẩy trẻ em, thường kể những câu chuyện giống như: treo thưởng để giúp bọn trẻ tập đàn, làm việc nhà, hoàn thành bài tập về nhà, hay bất cứ điều gì khác, vì rõ ràng các phần thưởng mang lại những hệ quả tiêu cực. Dù không định trước, mà những người ủng hộ nó thường không sẵn sàng thừa nhận. Phần thưởng có thể đảm bảo cho những hành vi nhất định, như tập đàn thường xuyên hơn, những hành vi mà nó đảm bảo không thực sự là bản thân chúng ta sau này. Nói cách khác, một cuộc thương thảo về thời gian là đủ để đạt được mục đích vượt qua sự kháng cự ban đầu, mà không gây ra những tác động tiêu cực như vậy. Việc trao thưởng theo cách không điều khiển người khác, đòi hỏi một sự trung thực đến tận cùng, mà thường vượt quá giới hạn con người. Nếu suy nghĩ một cách thấu đáo, ta thử sẽ thấy rằng thật ra, người lớn đang dùng những phần thưởng đó để gây áp lực lên con trẻ, kể cả khi điều mà họ đang ép con làm, có thể là những gì tốt nhất cho trẻ. Vì ép buộc người ta phải thắng, một chuyện dường như quá hiển nhiên trong những tình huống có tính cạnh tranh, có khả năng tạo ra tác động tiêu cực, ngay cả với người chiến thắng. Và dĩ nhiên, đối với người bại trận thì tác động đó còn tồi tệ hơn nhiều. Ủng hộ sự tự chủ, thứ hoàn toàn đối lập với sự kiểm soát, có nghĩa là ta có thể đứng ở góc nhìn của một người khác, và nỗ lực từ góc nhìn đó. Nó có nghĩa là tích cực khuyến khích tự khởi xướng, thử nghiệm và trách nhiệm, nhưng nó cũng có thể đòi hỏi phải đặt ra những giới hạn. Cách khuyến khích tự chủ, bao gồm giảm thiểu áp lực bằng cách tránh những cụm từ mang tính kiểm soát, và cho phép lựa chọn càng nhiều càng tốt, đòi hỏi phải tinh tế hơn. Khi thiết lập những giới hạn, luôn có khả năng xảy ra xung đột, bởi vì bạn đang yêu cầu người khác làm điều mà họ có thể không muốn làm. Việc đặt ra giới hạn là cực kỳ quan trọng, để thúc đẩy trách nhiệm, và những phát hiện của nghiên cứu này là nhân tố chính cho cách thực hiện điều đó. Khi đặt ra giới hạn theo hướng khuyến khích tự chủ, hay nói cách khác, khi xem bản thân bạn ngang hàng với người bị giới hạn, công nhận rằng người đó là một đối tượng chủ động, thay vì một mục tiêu để thao túng hay kiểm soát, ta sẽ có thể khuyến khích tinh thần trách nhiệm mà không hủy hoại chân nguyên của người đó. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Others
Tôi làm điều đó chỉ vì tiền
- 18 Mar, 2024
Phần thưởng và sự tha hóa Đến thăm bất kỳ sở thú nào trong thành phố, ngay cả ở nơi hiện đại nhất, bạn cũng có thể chứng kiến những hành vi quen thuộc của Hải cẩu. Các nhân viên cho thú ăn ở đây không phải là người điều khiển một màn xiếc để giải trí, mà chỉ đang làm công việc của mình. Tình cờ mang lại thêm một màn trình diễn hay mà thôi. Khi họ thả từng con cá vào miệng một chú Hải cẩu phàm ăn, nó gần như sẽ làm mọi thứ để được cho thêm thức ăn. Nó vỗ các chi vào nhau vậy chào đám đông, uốn mình như những nàng tiên cá trong một đài phun nước, và khán giả yêu thích những màn trình diễn đó. Người ta có thể nghĩ rằng nếu việc đó hiệu quả với Hải cẩu, thì nó cũng có thể hiệu quả với con mình, học trò và nhân viên của mình. Thông điệp có vẻ đơn giản: "Cứ thưởng cho những hành vi mà ta mong đợi và khả năng hành vi đó được lập lại sẽ cao hơn". Nhưng hóa ra vấn đề không thực sự đơn giản như thế. Ví dụ: Bạn có thể thoáng thấy vấn đề chính trong trường hợp những con hải cẩu. Ngay cả khi người cho chúng ăn biến mất, thì những hành vi mang tính giải trí cũng không còn. Bọn hải cẩu không còn hứng thú vỗ các chi hay vẫy chào khán giả nữa, phần thưởng có thể làm gia tăng khả năng xảy ra các hành vi, nhưng chỉ khi nào phần thưởng còn được đưa tới mà thôi. Với con cái học trò, và nhân viên, chúng ta đặc biệt hy vọng rằng những hành vi ta mong muốn sẽ tiếp tục diễn ra ngay cả khi chúng ta không có ở đó để trao thưởng. Chúng ta muốn con cái vẫn tiếp tục học hành, tiếp tục san sẻ công việc nhà. Muốn nhân viên tiếp tục duy trì hiệu suất làm việc, và câu hỏi mà chúng ta phải đối mặt là: "Làm thế nào để thúc đẩy sự định hướng bền bỉ" thay vì sự vô trách nhiệm hay tha hoá dường như đã quá phổ biến trong thế giới hôm nay. Harry Halow một nhà tâm lý học tiên phong, đã dành gần cả sự nghiệp của mình để nghiên cứu loài khỉ vàng. Khỉ vốn là những con vật rất năng động, thường xuyên tham gia vào tất cả các kiểu chơi đùa khôi hài. Chúng chạy quanh trêu chọc lẫn nhau ném đồ, làm mặt hề và thường luôn trông rất vui vẻ. Nhưng không phải tất cả năng lượng, và sự chú ý của chúng đều hướng vào vào các trò chơi. Nghiên cứu của Harlo: lần lượt đưa từng chú khỉ vào một cái lồng, chứa một bộ dụng cụ đánh đố, một loạt yếm khoá, móc và bản lề. Những con khỉ có vẻ cực kỳ hứng thú với trò chơi cơ học này, chúng sẽ tìm cách mở ra rồi tìm cách đóng lại như lúc đầu. Chúng lập lại những hành động này nhiều lần, chẳng có phần thưởng hữu hình nào cho hành vi đó cả, ấy vậy, mà những con khỉ bản chất tò mò này, vẫn tập trung và quyết tâm. Hơn thế chúng dường như còn biết cách tự làm mình vui vẻ. Đó là thuật ngữ "Động lực nội tại", để giải thích lý do những con khỉ dành nhiều giờ đồng hồ, để giải câu đố trong khi phần thưởng khả dĩ, duy nhất có vẻ chỉ là bản thân hoạt động đó mà thôi. Hết sức lưu ý, để không đi quá xa trong việc so sánh giữa động vật và con người. Sự hiếu kỳ của một đứa trẻ, là một nguồn năng lượng đáng ngạc nhiên. Bọn trẻ khám phá, thao tác và thắc mắc, Chúng cầm mọi thứ lên, lắc, nếm, ném đi, và hỏi "đây là cái gì?". Chúng thử mọi thứ, bẻ cong, và biến việc này thành vật khác. Chúng tìm tòi cái mới, và háo hức học hỏi. Rõ ràng, có điều gì đó trong bọn trẻ thật sống động, và tràn đầy sinh lực, điều gì đó trong chúng muốn làm chủ, mọi thử thách trong cuộc sống. Thuật ngữ động lực nội tại, có vẻ cũng áp dụng được cho bọn trẻ, giống như với những con khỉ của Harlow vậy. Theo ngôn ngữ riêng, chủ nghĩa hành vi là sự gia cố, những nguyên lý của chủ nghĩa hành vi: hãy treo thưởng cho mọi hành vi có thể nhận diện, và trao thưởng ngay khi hành vi đó kết thúc, và phải nhất quán trong việc trao thưởng. Nhà tâm lý học hành vi Berry Schwartz, đã chỉ ra thì lại khá đơn giản: con người về cơ bản khá thụ động, và sẽ chỉ hồi đáp khi môi trường cám dỗ họ, với cơ hội nhận phần thưởng và trắng được hình phạt. Không có cái gọi là động lực cổ vũ cho việc học, những điều này lại không phù hợp với thực tế là trẻ nhỏ. Ở nhà, hay ở các trường mẫu giáo, trẻ em vẫn luôn không ngừng khám phá và thao tác với những món đồ mà chúng bắt gặp. Chúng tự thử thách bản thân, để trở nên thành thạo, mà rõ ràng chúng làm vậy chỉ vì thích thú chính hoạt động đó. Trẻ em không thụ động, chờ đợi bị lôi kéo vào việc học bằng những phần thưởng mời mọc, mà ngược lại, chúng chủ động tham gia vào quá trình học hỏi. Quả thực, chúng có một động lực nội tại với việc học hành. Những câu hỏi mà nhiều người đã đặt ra làm thế nào để tôi có thể thúc đẩy người khác học hành? Làm việc? Làm việc nhà? Hãy uống thuốc? Đều là những câu hỏi sai. Sai là bởi vì, chúng ngụ ý rằng động lực là thứ gì đó, được tạo ra cho con người, hơn là thứ gì đó do chính con người tạo ra. Một cách cơ bản và hữu ích hơn để suy nghĩ về vấn đề này, bao gồm việc chấp nhận khái niệm động lực nội tại, đề cập đến quá trình thực hiện một hành động, vì chính bản thân hoạt động đó, hay quá trình thực hiện một hoạt động mang phần thưởng, vốn nằm trong bản thân hoạt động đó. Ví dụ: mục tiêu của việc vẽ một bức tranh, không phải là để làm ra một bức tranh, dù điều này nghe khá vô lý. Bức tranh nếu thành hình, chỉ là một sản phẩm, và có thể hữu ích có giá trị và thú vị. Mục tiêu, thứ đứng đằng sau mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực, là việc đạt đến một trạng thái hiện hữu, một trạng thái hoạt động cao cả, một thứ gì đó cao hơn khoảnh khắc tồn tại thông thường. Câu hỏi: điều gì đã xảy ra với động lực nội tại của con người dành cho một hoạt độn. Khi họ nhận được phần thưởng từ bên ngoài cho việc thực hiện một hành động, mà trước đó họ sẵn sàng làm không cần phần thưởng? Thông qua trò chơi hình khối hay nhất thế giới. Kết quả là, các sinh viên tham gia nhận được phần tiền thưởng, cho trò giải đố hầu như ít mày mò các mảnh ghép chỉ để cho vui, Không còn được trả tiền, thì họ cũng dừng chơi, có vẻ như một khi đã nhận tiền thì các đối tượng nghiên cứu chỉ thực hiện việc đó vì tiền. Một chuyện ngụ ngôn đại khái như sau: Những người cuồng tín rất muốn xua đuổi một người đàn ông Do Thái, là chủ một tiệm may trên phố chính, ra khỏi thị trấn, nên họ đã phái một nhóm côn đồ đến phá rối tiệm may này. Mỗi ngày, những gã lưu manh này đều xuất hiện để chế nhạo người thợ may. Tình huống khá tồi tệ, nhưng người thợ may rất mưu trí. Một hôm, khi bọn lưu manh đến, anh ta cho mỗi người một hào vì đã nỗ lực chế nhạo anh. Vui mừng, chúng buông lời nặng mạ rồi bỏ đi. Ngày hôm sau chúng quay lại chửi mới, mong chờ nhận được một hào nữa. Nhưng người thợ may nói rằng anh ta chỉ có thể trả năm xu thôi, rồi sau đó trao cho mỗi người năm xu. Ừ thì, chúng có chút thất vọng, nhưng năm xu rút cuộc vẫn là năm xu, nên chúng nhận tiền, chửi bới sỉ nhục, rồi bỏ đi. Ngày hôm sau, chúng lại đến, người thợ may nói rằng anh ta chỉ còn có một xu để cho chúng thôi, và anh ta chìa ra. Đầy căm phẫn, bọn lưu manh choai choai ấy cười khinh bỉ, và dõng dạc tuyên bố rằng, chúng chắc chắn sẽ không đời nào tốn thời gian, để nhục mạ anh ta chỉ vì một xu cỏn con. Vậy là chúng đã không làm thế nữa, và người thợ may được yên thân. Rõ ràng, tiền tạo nên một thế lực đầy uy quyền. Chắc chắn chẳng có nghi vấn nào về việc nó có thể tạo động lực cho con người. Chỉ cần nhìn xung quanh ta cũng có thể thấy rằng con người sẵn lòng tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau vì tiền đến mức nào. họ buộc bản thân làm những công việc họ ghét, bởi vì họ cần tiền. Họ dính vào bài bạc, đôi khi mức hết tất cả chỉ vì niềm tin phi lý rằng họ sẽ thắng một ván lớn. Họ nhận thêm việc, khiến bản thân căng thẳng quá mức, đến độ có thể khiến họ đổ bệnh, chỉ để kiếm thêm tiền. Họ dính líu đến nhiều hoạt động bất chính khác nhau, Bởi lời hứa hẹn những phần thưởng hậu hĩnh. Chắc chắn rồi, đồng tiền tạo ra lực thúc đẩy, nhưng đó không phải là mấu chốt. Mẫu chốt là đồng tiền thúc đẩy con người, nhưng nó cũng đồng thời hủy hoại động lực nội tại, và nó còn có hàng loạt tác động tiêu cực khác. Khi con người nói về sự điều khiển, họ thường có ý nói về sự ép buộc. Tức là sự kiểm soát thông qua quyền lực và đe dọa. Khi người ta nói rằng đồng tiền tạo ra động lực, thì điều họ thực sự muốn nói là đồng tiền điều khiển con người. Khi điều đó xảy ra, con người trở nên tha hoá, họ từ bỏ phần nào con người chân thật của mình, và họ tự ép bản thân làm những gì họ nghĩ là phải làm. Người ta chấp nhận ý nghĩa của sự tha hoá, là nó bắt đầu khi con người mất kết nối với động lực nội tại của họ, với sức sống và sự hào hứng mà mọi đứa trẻ đều sở hữu, với việc thực hiện một hoạt động vì chính bản thân hoạt động đó trạng thái đó gọi là "Cao hơn khoảnh khắc tồn tại thông thường". I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Sharing
Thẩm quyền và những sự bất mãn của nó
- 10 Mar, 2024
Bàn về động lực của con người khi được sắp xếp xoay quanh sự phân biệt tính quan trọng trong hành vi giữa việc nó là tự chủ hay nó bị kiểm soát. Khi tự chủ con người tuyệt đối sẵn sàng làm những gì họ muốn làm, và họ sẳn sàng nắm bắt các hoạt động với sự nhận thức, sự say mê và tận tụy. Hành động của họ bắt nguồn từ ý thức thật sự về cái tôi nên họ đang sống thật. Bị kiểm soát nghĩa là hành động do phải chịu áp lực khi bị kiểm soát, khi đó con người hành động mà không cảm thấy có sự tán thành của chính bản thân. Hành vi của họ không phải là biểu hiện từ cái tôi vì cái tôi đã bị những sự kiểm soát khuất phục, trong tình cảnh này con người có thể hiểu và được mô tả là bị tha hóa. Khi một hành vi không còn tự chủ thì nghĩa là nó đang bị kiểm soát và có hai loại hành vi bị kiểm soát: - Loại thứ nhất là sự tuân thủ: có sự tuân thủ các giải pháp độc đoán khi muốn đạt được và tuân thủ nghĩa là làm những gì bạn được bảo bởi vì bạn được bảo phải làm vậy. - Loại thứ hai là sự thách thức: làm ngược lại những gì bạn được kỳ vọng sẽ làm chỉ vì người khác mong bạn làm điều đó. Từ đó dẫn đến sự nổi loạn, đây là biểu hiện bên ngoài của khuynh hướng bất tuân kiểm soát và nó chung sống một cách không thoải mái với sự thích nghi, thứ vốn là biểu hiện cho khuynh hướng tuân thủ của con người. Tính chân thực đòi hỏi phải hành xử một cách tự chủ, có nghĩa ta phải là tác giả của những hành động của bản thân hành động theo đúng con người bên trong sự thật của mình. Chìa khóa để hiểu được sự tự chủ chân thật và cái tôi là quá trình tâm lý được gọi là hợp nhất nhiều khía cạnh trong tâm trí con người. Ở mức độ được hợp nhất hay hòa hợp với cái tôi cốt lõi bẩm sinh của họ, chỉ khi các quá trình khởi xướng và chỉnh đốn một hành động được hợp nhất với các khía cạnh trong bản ngã của con người thì hành vi mới được tự chủ và con người mới chân thật theo nghĩa là sống thật đúng với cái tôi của bản thân. Khái niệm quan trọng về cái tôi như một trung tâm hợp nhất mà nhờ đó con người có thể hành động một cách tự do và tự nguyện là có khả năng đó là nguyên nhân của một hành động. Nói theo cách ẩn dụ là nguyên nhân đó nằm trong bản thân của chúng ta nhưng không phải trong cái tôi của chúng ta, không ai nói rằng những hành vi loạn thần là chân thật hay có tính tự quyết, chúng được khơi dậy bởi một khía cạnh nào đó trong lớp hóa trang tinh thần của một người nhưng không phát ra từ những gì chúng ta gọi là cái tôi. Ví dụ: hãy nghĩ về một người đến nhà thờ không vì anh ta muốn mà vì anh ta nghĩ mình nên làm như vậy anh ta không hề tự chủ cũng không chân thật khi cư xử với trải nghiệm phải làm thay vì chọn làm. Hội chứng ái kỷ vốn liên quan đến khao khát tìm kiếm sự khẳng định từ người khác đến tuyệt vọng, nó đòi hỏi sự tập trung hướng ra bên ngoài và để tâm đến những gì người khác nghĩ sự tập trung đó khiến con người ta xa rời khỏi cái tôi đích thực của họ, tâm lý ái kỷ không bắt nguồn từ việc con người quá gắn bó với cái tôi mà đúng hơn là từ việc bị mất kết nối với nó. Họ chấp nhận những giá trị ái kỷ trong một xã hội kiểm soát vì họ Không có được kiểu nuôi dưỡng tâm lý cần thiết để phát triển một cái tôi lành mạnh và hợp nhất. Một sự nhầm lẫn trong luận điểm mô tả về sự chân thật khi con người quan tâm đến bản thân của họ hơn là những người khác rằng khi con người tự do họ hoàn toàn đơn độc và thiếu vắng sự sôi nổi trong cảm xúc mô tả của Bloom từ bình luận của nhà sử học Lorén Baritz. Con người trở nên chân thực hơn khi họ phát triển khả năng tự chủ trong việc tự chỉnh đốn nhiều hơn, thì họ cũng có khả năng kết nối với người khác sâu sắc hơn. Cần phải làm rõ ràng ta không thể hiểu rõ tính chất chân thật nếu chỉ xét đến những hành vi bên ngoài chúng ta phải nhìn vào những động lực đằng sau các hành vi đó. Ví dụ: một số người xuống đường đòi quyền công dân trong những năm 1960 đã rất chân thật nhưng số khác thì không hoặc một xuống người quanh quẩn trong các câu lạc bộ sức khỏe vào những năm 1990 rất chân thật nhưng những người khác lại không, chỉ xét đến động lực khiến con người hành động. Ta dễ dàng tìm thấy những đứa trẻ cảm thấy mình là một phần của thủy thủ đoàn nhưng lại khó tìm được những đứa trẻ thấy mình là thuyền trưởng trên con tàu của chính chúng. Nếu như động lực mạnh mẽ nhất dẫn đến hành vi có trách nhiệm nhất phải được xuất phát từ bên trong. Thật ra câu trả lời cho câu hỏi quan trọng này chỉ có thể xuất hiện khi câu hỏi cần được trình bày lại là "làm thế nào người ta có thể thúc đẩy người khác?" mà là "làm thế nào người ta có thể tạo ra những hoàn cảnh mà trong đó người khác sẽ tự thúc đẩy chính mình?". Trong suốt cuộc đời con người luôn vật lộn với vấn đề liệu họ có đang đưa ra những lựa chọn của chính mình hay không, liệu hành động của họ có phải do họ tự quyết hay không. Có cách khác là họ đang chịu sự kiểm soát của một tác nhân bên ngoài hay sức mạnh bên trong quyền lựa chọn là chìa khóa dẫn đến sự tự chủ và tính chân thật và việc đặt câu hỏi xem một người nào đó có thật sự lựa chọn làm gì hay không là điều cần thiết đối với hầu hết những phiên tòa dân sự và hình sự. I am so very thankful for your time Bạn có thể mua sách "Sao ta làm điều ta làm" để trải nghiệm thêm góc nhìn của bản thân về nội dung của sách, và đây là Affiliate link. (English: Why we do what we do, Dr Edward L. Deci & Richard Flaste)
- Blog
- Book
- Coach
- +1
i'm BÌNH ĐINH
Welcome to my cozy internet corner, where I'm dedicated to sharing random thoughts and delightful creations. Here, I invite you to embark on a journey of creativity, simplicity, and positivity. Join me as we explore and share with enthusiasm.
Let's dive in!